Wednesday, February 21, 2018

Sigmund Freud - Thuyết phân tích tâm lý

Copy từ blog http://tuhieuminh.blogspot.com/2013/04/sigmund-freud-thuyet-phan-tich-tam-ly_5687.html
--------------------
1. Tiểu sử sáng lập

Sigmund Freud sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 trong một thị trấn nhỏ bé tại Freiberg thuộc xứ Moravia. Cha ông là một thương gia buôn lông cừu sắc sảo và rất hài hước. Mẹ ông là một người phụ nữ đảm đang. Mẹ của ông làm người vợ thứ của cha và kém chồng 20 tuổi. Bà đã sinh ra Freud ở tuổi 21. Sigmund Freud có 2 người anh cùng cha khác mẹ và 6 đứa em nhỏ. Khi cậu bé Sigmund lên khoảng 6 tuổi, gia đình cậu dọn lên Vienna, và ở nơi đây cậu bé ấy đã sống gần như trọn vẹn cuộc đời của mình:

Là một đứa trẻ rất thông minh, luôn luôn đứng đầu lớp học, lớn lên ông theo học trường y khoa. Đây là một trong những lựa chọn hiếm hoi cho một đứa trẻ có nguồn gốc Do Thái lúc bấy giờ. Ở trường Đại học, ông bắt tay vào nghiên cứu dưới sự giám sát của giáo sư sinh lý học Ernst Brucke. Thầy của ông đã rất tin tưởng vào các học thuyết mang tính phân tích với suy luận cho rằng các nội lực vật lý và hóa học là những xung lực hoạt động trong một cơ thể sống. Freud đã cố gắng trong nhiều năm trong việc mổ xẻ nhân cách con người qua ngã thần kinh học (neurology). Nhưng đấy là một thách đố mà sau này ông đã bỏ cuộc.

Freud rất giỏi trong nghiên cứu, ông giành nhiều thời gian tập trung vào hoạt động sinh lý của các tế bào thần kinh và đứa phát minh ra kỹ thuật nhuộm màu các tế bào trong nghiên cứu ở phòng thí nghiệm. Tất nhiên ông đã gặp phải nhiều cạnh tranh với những sinh viên khác vì các vị trí nghiên cứu trong trường Đại học không nhiều lắm. Dù vậy giáo sư Brucke đã giúp Freud có kinh phí để thực hiện nghiên cứu với một bác sĩ tâm thần khác tên là Charcot ở Paris.

Sau một thời gian ngắn thực tập nghiên cứu trong một Trung tâm tâm thần trẻ em. Ở Berlin, ông quay trở về Vienna: Sau đó ông cưới cô bạn gái tên là Martha Bemays. Rồi ông mở phòng mạch chuyên trị thần kinh tâm thần cùng với người phụ tá là Joshep Breueur.

Những cuốn sách và những bài giảng của Freud đã làm rạng danh tên tuổi của ông và kéo theo cả những chống đối trong cộng đồng y học lúc bấy giờ. Mặc dù ông đã tranh thủ được sự đồng cảm nơi một số học giả uy tín trong xu hướng phong trào phân tích tâm lý. Tuy nhiên một trở ngại lớn là Freud đã từ chối bất cứ ai không hoàn toàn đồng ý với quan điểm của ông, vài người sau đó đã chia tay với ông. Một số đã chính thức giới thiệu những tư tưởng đối chọi với học thuyết của Freud trên diễn đàn tâm lý học lúc bấy giờ..

Freud di cư đến Anh Quốc trước Chiến tranh thế giới II trong lúc Vienna trở thành một nơi nguy hiểm cho cộng đồng người Do Thái, nhất là đối với một người nổi tiếng như Freud. Sau đó không lâu Freud qua đời tại đây vì bệnh ung thư hàm miệng, sau 20 năm vật lộn với căn bệnh này.

2. Học Thuyết Freud

Nói chính xác ra thì Freud không phải là cha đẻ của khái niệm ý thức; đối chiếu với khái niệm vô thức nhưng ông là người đã có công biến nó trở thành nổi tiếng. Trạng thái ý thức xảy ra khi chúng ta có nhận thức về những diễn biến xảy ra từ xung quanh qua cách nhìn, trí nhớ, nhận thức, tư tưởng, cùng với những ảo tưởng và cảm giác. Freud cho rằng tiềm thức là một trợ tá đắc lực của ý thức; ông cho rằng đây là một của trạng thái trí nhớ sẵn sàng hoạt động vốn là trung tâm lưu trữ được ý thức sử dụng để truy cập dữ kiện khi cần thiết. Người đương thời với Freud không có những nhận xét nào cụ thể về ý thức và tiềm thức nhưng Freud tin rằng phải có một bộ phận nhỏ nằm ở giữa ý thức và tiềm thức.

Theo ông, đấy là một bộ phận vô thức, một khu vực lưu trữ không dễ dàng truy cập khi cần thiết bởi ý thức, bao gồm những xung động và nội lực tồn tại, chẳng hạn như bản năng hay những tâm thức cảm xúc có cường độ quá mạnh mà con người né tránh vì những tâm thức cảm xúc này liên quan đến những điều đau đớn khó chịu.

Theo Freud, vô thức là nơi tập trung những động cơ. Những động cơ này có thể là đơn giản như muốn được tin trong khi đói hay nhu cầu thỏa mãn tính dục, hoặc những xung động thần kinh tự động. Vô thức còn chứa trong nó những động cơ cao hơn, phức tạp hơn như vẫn thấy trong sáng tạo nghệ thuật và tìm tòi khoa học. Theo ông những động cơ thuộc khu vực vô thức thường có nhiều hình thái rất khó nhận dạng.

3. Các khái niệm về xung động vô thức, cái tôi và siêu ngã

Những trường phái tâm lý theo học thuyết của Freud đặt một sinh thể trong bối cảnh cuộc sống với những liên hệ phong phú. Trong đó một sinh thể có những hành vi đặc thù để duy trì đời sống và sinh sản, được hướng dẫn bởi những nhu cầu sinh lý cơ bản bao gồm: đói, khát, hoạt động tính dục hay tránh né những hình phạt, đau đớn, và những trạng thái khó chịu.

Thần kinh là một bộ phận tối quan trọng cần thiết của một sinh thể. Đây chính là cơ quan nhạy cảm với những nhu cầu sinh sống và sinh sản của một sinh thể. Khi vừa được sinh ra, một sinh thể đã được cài đặt một hệ thần kinh có bộ phận xung động vô thức. Nhiệm vụ của xung động vô thức là giải mã nhu cầu sinh lý thiết yếu của sinh thể, từ đó đề xuất những động cơ mà Freud gọi là những khao khát. Quá trình giải mã này được gọi là quá trình xử lý chủ lực.

Phương thức làm việc của xung động vô thức chủ yếu cung cấp nền tảng xoay quanh nguyên lý khoái lạc vốn tập trung vào cơ năng đòi hỏi thỏa mãn ngay lập tức những nhu cầu sinh lý của một sinh thể. Ví dụ khi một trẻ sơ sinh đói, em sẽ khóc cho đến khi tái xạm cả người. Xung động vô thức không cần biết đến yếu tố hợp lý trong não trạng bình thường mà chỉ biết ra lệnh, đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu phải được thỏa mãn ngay lập tức. Theo Freud thì xung động nơi trẻ em là trạng thái xung động vô thức thuần túy nhất, là đại biểu toàn diện của tâm thức dưới hình thái sinh học.

Ước muốn có thức ăn khi ta đói bụng được kích thích bởi trí tưởng tượng về một món ăn. Nếu nhu cầu từ ước muốn ấy không thể thỏa mãn được, xung động bên trong cơ thể chúng ta sẽ nhập cuộc trong việc nổi loạn và không chịu ngưng nghỉ cho đến khi những nhu cầu thức ăn thỏa mãn cơn đói được đáp ứng. Và khi nhu cấu ăn được đáp ứng thì sinh thể sẽ trở về trạng thái nghỉ.

Để kiềm chế xung động vô thức, một sinh thể cần đến khả năng ý thức, vốn là một cơ năng có liên hệ với những lý giải và phân tích suy diễn. Theo Freud thì xung động vô thức nơi trẻ sơ sinh sẽ phát triển trở thành cái tôi trong thời gian một tuổi đầu tiên. Trong đó cái tôi là một bộ phận liên hệ trực tiếp với môi trường sống thực tế của sinh thể. Cái tôi đóng vai trò trong việc đi tìm những đáp ứng từ môi trường thỏa mãn nhu cầu của xung động vô thức. Đây là một quá trình mang tính chất xử lý vấn đề. Freud gọi quá trình này là quá trình xử lý thứ cấp.

Khác với xung động vô thức, cái tôi vận hành theo nguyên lý hợp lý với điều kiện thực tế, đảm nhiệm việc tìm ra những đáp ứng cho nhu cầu sinh lý của cơ thể từ những nguồn thích hợp. Ví dụ khi đói, một cá nhân sẽ tìm thức ăn ở những nơi mà anh ta có thể được cho phép như ở nhà, hay ở tiệm ăn khi anh ta có tiền. Cái tôi đại diện cho suy diễn thực tế và vì thế có sự xuất hiện của phân tích lý luận.

Tuy nhiên trong quá trình đi tìm đáp ứng để thỏa mãn nhu cầu của xung động vô thức (giúp cho một sinh thể duy trì trạng thái cân bằng), cái tôi sẽ vấp phải những trở ngại trong cuộc sống thực tế của môi trường. Thường thì cái tôi sẽ cố gắng trong việc dung hòa giữa mục đích ý nghĩa và nhu cầu trong việc ổn định sinh hoạt của sinh thể. Cái tôi sẽ gặp phải những thuận lợi và những trở ngại. Cái tôi sẽ ứng xử dựa trên hệ quả đến từ thuận lợi qua những phần thưởng và tránh những trở ngại đến từ hình phạt. Đây là quá trình trẻ em rút ra từ môi trường sống qua tiếp xúc với cha mẹ và người lớn từ khi các em còn bé. Chính những khái niệm phần thưởng và hình phạt này sẽ giúp trẻ tránh những điều bất lợi, từ đó các em sẽ tự xây dựng cho mình những chiến lược xử lý để đạt được nhiều phần thưởng và tránh né những hình phạt.

Khi trẻ lên 7, hệ chiến lược xử lý nơi các em sẽ phát triển trở thành siêu ngã, tuy nhiên nhiều người sẽ không phát triển đến mức độ đạt được trạng thái siêu ngã. Siêu ngã có hai khía cạnh: (1) là lương tâm và (2) cái tôi lý tưởng. Lương tâm là một quá trình thiết lập ý thức về hình phạt và sự cảnh cáo (punishment và warnings). Cái tôi lý tưởng được phát triển khi các em nhận được những phần thưởng có giá trị đạo đức tinh thần và do các em học được những gương mẫu tích cực từ người lớn. Lương tâm và cái tôi lý tưởng sẽ đối thoại với cái tôi trong việc xử lý những yêu cầu nhằm thiết lập những định nghĩa về khái niệm như: tự hào, điều xấu hổ hoặc những mặc cảm.

Khi trẻ em lớn lên, những phản ứng vận hành chuyển từ thuần túy sinh học sang tính năng xã hội. Tuy nhiên điều kiện thực tế từ đời sống xã hội sẽ đặt ra những khó khăn cho xung động vô thức. Nhất là khi các nguồn cung cấp trong xã hội có giới hạn. Nên biết, cơ năng xung động vô thức nơi con người thường chỉ muốn được sở hữu, ai cũng muốn mình có nhiều hơn và rất ngại trong việc tiếp nhận đời sống khó khăn, thiếu hụt.

4. Bản năng ham sống và bản năng được chết

Freud nhìn thấy mọi hành vi của con người có động cơ từ những đam mê và bản năng; vốn được coi là những phương thức của hệ thần kinh trong việc đáp ứng những nhu cầu sinh lý của cơ thể. Ban đầu ông cho rằng đó là những bản năng ham sống phục vụ đời sống của một cá nhân sinh thể (a) bằng cách kích thích việc tìm thức ăn và nước uống và (b) duy trì đời sống của cộng đồng qua việc sinh sản. Theo đó Freud giới thiệu khái niệm xung lực dục năng theo tiếng La tinh có nghĩa là Tôi muốn.

Kinh nghiệm lâm sàng của Freud đã dẫn ông đến việc đánh giá tính dục là một xung lực dục năng quan trọng hơn những động lực tâm lý khác. Con người là những sinh thể có nhu cầu xã hội. Tính dục thực ra là một nhu cầu mang tính xã hội rất cao. Freud định nghĩa tính dục rộng hơn nghĩa đen đơn thuần là giao hợp, tuy nhiên nhiều người ngộ nhận khái niệm dục năng là năng lượng chỉ xoay quanh đời sống tính dục.

Về sau này, Freud bắt đầu tin rằng bản năng sống không hoàn toàn chi phối tất cả chúng ta. Theo ông, dục năng chỉ là một mảng của đời sống, nguyên lý lạc thú là bộ phận khiến chúng ta chuyển động liên tục không ngừng nhằm duy trì trạng thái thoả mãn, bình yên và bằng lòng. Tuy nhiên Freud tin rằng mỗi cá nhân đều có một mục đích sau cùng của đời sống là sự chết. Ông tin rằng từ trong sậu thẳm, mỗi người có một khát khao vô thức sẽ được chết. Và đây là một bản năng nằm phía bên dưới của bản năng ham sống.

Đây là một ý tưởng độc đáo và lạ lùng khiến nhiều học trò của Freud đã phản đối ông kịch liệt. Tuy nhiên đã có ý kiến cho thấy và vài kinh nghiệm minh họa. Đôi lúc đời sống có khi rất đau khổ, nhất là những lúc cơ thể được đặt trong một trạng thái kiệt sức thường xuyên – con người sẽ muốn được giải thoát. Đây là một não thức rất phổ thông. Vì thế trên thế giới luôn có những nhận định tin rằng số người đau khổ luôn nhiều hơn số người hạnh phúc, trong số đó nhiều người không dám trực diện đối mặt với đau khổ. Và như thế cái chết vô tình đã là một hứa hẹn giải phóng con người thoát khỏi những vật lộn giằng xé này.

Freud mượn nguyên lý Niết Bàn; vốn là một ý tưởng của Phật giáo được hiểu theo nghĩa như một thiên đàng. Niết Bàn có nghĩa được dịch sát là thổi hơi, như việc thổi tắt một ngọn nến. Vì thế Niết Bàn thú trọng đến tính không hiện diện, không tồn tại, tính hư không, trống rỗng. Đây vốn là tất cả những triết lý giáo huấn của Phật giáo.

Bằng chứng hàng ngày về bản năng được chết và nguyên lý Niết bàn được thể hiện qua những khao khát an bình, không muốn đối diện với mâu thuẫn, khát khao sự an bình trong giấc ngủ, sự bình thản, lặng lẽ, được nghỉ ngơi, được thinh lặng. Đôi lúc đi xa hơn, ta còn thấy nhiều người đã dự định đi tìm cái chết qua tự tử và có ý định tự tử như một nhu cầu van xả. Freud đã cố gắng đưa ra một học thuyết cho rằng một số người còn hướng bản năng chết vào những hành vi khác như gây hấn, giết người, độc ác, và những hành vi mang tính phá hoại.

5. Lo lắng

Freud đã có lần nói: Đời sống chẳng dễ dàng một chút nào! Cái tôi là trung tâm của những xung lực mạnh mẽ đến từ hai ngả: (a) siêu ngã có nguồn gốc từ tác động của kinh nghiệm thực tế xã hội, và (b) từ xung động vô thức có nguồn gốc sinh lý. Bình thường thì cái tôi sẽ tìm mọi cách để dung hòa hai thái cực này. Tuy nhiên nhiều cá nhân có những cái tôi phát triển không bình thường. Khi có sự mâu thuẫn gay gắt giữa siêu ngã và xung động vô thức, thì cá nhân đó sẽ có những cảm giác sợ sệt, khiếp nhược, mệt mỏi, có vẻ như sẽ sụp đổ. Trạng thái này gọi là lo lắng phục vụ như là một tín hiệu cảnh báo, giúp một sinh thể ý thức rằng sự tồn tại hiện diện của mình đang bị đe dọa.

Freud đưa ra ba hình thái lo lắng là:

(1) Lo lắng thực tiễn: hay còn được gọi là sợ hãi, ví dụ như đi lạc trong rừng có nhiều thú dữ như cọp, beo, báo, sợ bóng đêm sợ súng đạn….

(2) Lo lắng đạo đức: đây là những trạng thái con người cảm nhận từ bên trong nội thức của mình. Lo lắng về mặt đạo đức không đến từ bên ngoài, hay từ môi trường sống. Đây là cảm giác mang tính hấp thụ xã hội nằm trong khu vực siêu ngã. Lo lắng đạo đức thuộc về thế giới nội tâm qua những cảm xúc xấu hổ, mặc cảm, hoặc sợ bị trừng phạt bởi lương tâm, hay sợ hãi từ các giáo lý tôn giáo hoặc mặc cảm trong đời sống tâm linh.

(3) Lo lắng thần kinh: là nỗi sợ hãi do bị khuất phục bởi xung lực từ xung động vô thức. Vài ví dụ có thể nhận thấy là khi ta giận đến độ mất khả năng kiểm soát và kiềm chế, quá khích đến độ mất khả năng phán đoán, giảm khả năng phân tích và xử lý. Neurotic trong tiếng La tinh có nghĩa là sợ hãi.

6. Cơ chế tự vệ

Freud cho rằng cái tôi phải đối diện với những yêu cầu từ hai phía trong đời sống thực tiễn là: xung động vô thức và siêu ngã. Tuy nhiên khi có sự mâu thuẫn quá lớn giữa xung động vô thức và siêu ngã xảy ra, cái tôi buộc phải tự bảo vệ nó một cách vô thức tự động bằng cách chặn lại những xung lực này hoặc tìm cách thay đổi biến chúng trở thành những hình thái mới mẻ khác, dễ được chấp nhận và bớt đi tính cách đe dọa hơn. Sau đó con gái của Freud là Anna cùng một số cộng sự khác đã tiếp tục khám phá thêm về hiện tượng cơ chế tự vệ này.

Cơ chế tự vệ chối bỏ: là cơ chế tự vệ chặn những sự kiện có hại từ bên ngoài, không cho chúng đi vào khu vực cảnh giác của tâm thức. Khi tiếp cận những trường hợp tình huống căng thẳng vượt quá khả năng xử lý của cá nhân, người đó sẽ từ chối không nhập cuộc với tình huống ấy. Đây là cơ cấu tự vệ chủ lực. Theo Freud và Anna thì đây là cách tiếp cận không lành mạnh vì chúng ta không thể đóng cửa mãi với vấn đề được. Đây là cơ chế tự vệ tạo điều kiện để những cơ chế tự vệ không lành mạnh khác có cơ hội phát huy.

Vài ví dụ được thấy, trẻ em quay mặt tránh né cái nhìn bắt lỗi của người lớn khi các em phạm lỗi. Trong trường hợp này các em đã sử dụng cơ chế tự vệ chối bỏ để tránh né tia mắt nóng nảy của người lớn. Hay có nhiều người lớn bất tỉnh khi nhìn thấy máu, đây cũng là cơ năng tự vệ chối bỏ. Có người đổ vỡ trong tình cảm không tin rằng họ bị phản bội. Nhiều người cố tình không chấp nhận sự ra đi của người thân. Đôi lúc nhiều người không có can đảm để nghe sự thật. Nhiều sinh viên không dám đi coi điểm bài thi của mình vì sợ thi rớt. Đó là những ví dụ của cơ chế tự vệ chối bỏ thực tế.

Anna, con gái của Freud cũng nhắc đến cơ chế tự vệ chối bỏ trong địa hạt tưởng tượng. Ví dụ khi một em bé đã chuyển đổi chân dung một người cha độc ác sang một con gấu dễ thương, hay một em bé tội nghiệp đáng thương trở thành một anh hùng đầy sức mạnh (như trong truyện cổ tích).

Cơ chế tự vệ dồn nén: được Anna Freud (con gái của Freud) gọi là sự lãng quên có động cơ trong đó một cá nhân không thể nhớ lại những tình huống, hoặc những sự kiện đau đớn. Đây là một cơ chế tự vệ khá nguy hiểm vì cá nhân không giải quyết dứt khoát tận gốc mọi sự cố xảy đến từ điều kiện hoàn cảnh đời sống không thuận lợi.

Ví dụ một người rất sợ loài nhện mà không hiểu vì sao mình lại quá sợ? Chỉ nghĩ đến loài nhện thôi họ đã sợ chứ không cần phải nhìn thấy. Rồi khi lớn lên anh ta vẫn không hiểu do đâu mình sợ. Cho đến khi anh ta nghe người lớn kể rằng ngày còn rất bé anh ta bị nhốt trong một căn phòng hẹp có nhiều nhện. Ký ức anh ta đã đóng chặt và anh ta đã cố tình quên để gạt bỏ kinh nghiệm của mình đã bị nhốt trong một căn phòng có đầy nhện. Anh ta cố quên hẳn chuyện vì sao mình sợ nhện – tuy nhiên nỗi sợ hãi vẫn tồn tại ở một cấp độ gián tiếp khó nhận ra.

Theo trường phái phân tích tâm lý của Freud thì hiện tượng sợ hãi vô lý này đã dồn nén một sự kiện gây sợ quá ấn tượng; đó là căn phòng hẹp có nhiều nhện. Vì thế chỉ cần anh ta nhìn thấy nhện hoặc nghĩ về nhện đã gây ra lo lắng mà không cần khuấy động toàn bộ hệ thống trí nhớ. Cơ chế tự vệ dồn nén này thường là căn nguyên của những nỗi lo sợ vô căn cứ.

Cũng theo Freud, đời sống khổ hạnh là một thói quen từ bỏ những nhu cầu bình thường hàng ngày như nhịn ăn, tập thể dục quá độ, tập luyện võ nghệ, cùng với nhiều hành vi ép xác khác bởi vì các cá nhân đó có thói quen từ bỏ nhìn nhận những khả năng phát triển bình thường của mình. Vì thế họ luôn cố gắng hoàn thiện mình. Đây là một hình thái xử lý tình trạng lo lắng về những khiếm khuyết của bản thân. Nhiều người còn đi xa hơn, tự đày đọa thân xác để mong tìm được sự bình an trong ăn năn sám hối.

Anna Freud đã lý luận và cho rằng nhiều người trải qua một hình thái dồn nén nhẹ hơn gọi là hạn chế cái tôi. Điều này xảy ra khi một người không còn hứng thú đến một bộ phận nào đó của cuộc sống nên đã tập trung vào những mảng khác của đời sống để né tránh những gai góc thử thách. Ví dụ một cô gái sợ mình không có nhiều cơ hội có người yêu nên dồn vào việc học tập và làm việc. Hoặc một cậu bé không giỏi thể thao thường tập trung vào học môn toán.

Cơ chế tự vệ đóng cửa đôi khi còn được gọi là quá trình thông minh hóa. Đây là cơ chế tự vệ liên quan đến việc tách cảm xúc ra khỏi một ký ức khó chịu hay một một xung lực có tính chất đe dọa. Ví dụ một người đã bị sách nhiễu tình dục có vẻ rất hờ hững và bàng quan và coi mình chưa bao giờ bị sách nhiễu tình dục. Đây chính là một hình thái của tự nói dối, tự lừa gạt chính mình.

Trong trường hợp khẩn cấp, nhiều người tỏ ra rất tỉnh táo nhưng khi tình trạng khẩn cấp đó qua đi thì họ sẽ sụp đổ. Trong quá trình căng thẳng, cơ thể họ cho biết họ không thể ngã quy. Nhiều cá nhân có khả năng tỏ ra rất cứng rắn trong việc xử lý chết chóc hay tiếp cận với những ca bị thương như các bác sĩ và y tá. Họ là những người phải làm việc thường trực với các vết thương, vết mổ, máu và dao kéo. Ta có thể nhận ra họ có khả năng áp dụng cơ chế tự vệ đóng cửa. Hoặc ta thấy nhiều trẻ em rất sợ phim ma nhưng vẫn đi coi. Hoặc nhiều người cố tình cười đùa trước những sự kiện đau lòng. Đây là những ví dụ cơ chế tự vệ đóng cửa nơi con người. Các cá nhân tự thuyết phục rằng họ không có những cảm xúc lo lắng nhưng thật ra họ rất lo lắng.

Cơ chế tự vệ thay thế là quá trình chuyển hướng cảm xúc của mình về một cá nhân A qua một cá nhân B khác. Thông thường thì những cảm xúc tích cực dễ chịu được con người đón nhận và tiếp cận. Song có những cảm xúc quá gay gắt và khó chấp nhận, một cá nhân thường có phản ứng chuyển cảm xúc ấy sang cho người khác (như giận cá chém thớt).

Ví dụ một người không thích sếp của mình là người thấp lùn nên có ác cảm với tất cả những người đàn ông thấp lùn khác (không thích sếp nên ghét lây sang người khác). Hay nhiều người không tìm được bạn tình nên đã tìm cách kiếm những thú vật khác như chó mèo để thay thế nhu cầu tình cảm ấy. Nhiều người đi tu vì không tìm thấy ý nghĩa của mình trong cuộc sống ở ngoài đời. Nhiều người bực bội ở cơ quan về nhà hành hạ và la mắng người thân. Nhiều trường hợp, cá nhân có thể áp dụng cơ chế tự vệ thay thế với chính mình bằng cách giận người khác nhưng lại tự đọa đày và có những não trạng yếm thế, thụ động, chán chường dẫn đến thiếu tự tin và trầm uất. Họ cảm thấy tự ghét bỏ mình và không chấp nhận bản thân con người của họ.

Cơ chế tự vệ gán ghép cảm xúc được Anna Freud gọi là hoán chuyển cảm xúc hướng ngoại. Đây là cách nhiều người gán ghép cảm xúc của mình lên người khác, nhất là những điểm hạn chế tiêu cực của bản thân họ được nhìn thấy nơi người khác. Họ thường có những cảm xúc vẫn tồn tại trong hệ tư duy của mình nhưng lại cho đấy là cảm xúc của người khác. Có thể nói đây là cách suy bụng ta ra bụng người về những mặt thiếu lành mạnh và tiêu cực.

Ví dụ như một ông chồng rất thích một cô gái hàng xóm và rồi nghĩ rằng vợ mình cũng có những cảm giác đó với những người đàn ông khác tại cơ quan. Hay một sinh viên lười biếng có khuynh hướng cho rằng nhiều sinh viên khác cũng sẽ lười biếng như mình. Hoặc nhiều người có những lo lắng băn khoăn về xu hướng giới tính của mình sẽ nghĩ là nhiều người xung quanh có cùng cảm giác đó. Anh A là người đồng tính sẽ nghĩ rằng có nhiều người đàn ông khác cùng đồng tính giống như anh. Nhiều người sống và hy sinh vì người khác vì họ tìm thấy những nhu cầu của mình sẽ được đáp ứng qua sinh hoạt người khác. Ví dụ như ta vẫn nghe câu nói "muốn ăn gắp bỏ cho người". Chẳng hạn một cô gái luống tuổi rất thích làm mai cho các cô gái trẻ khác vì họ có nhu cầu cơ chế tự vệ hoán chuyển cảm xúc này.

Cơ chế tự vệ phản ứng được Anna Freud gọi là tin vào điều ngược lại. Đây là cách các cá nhân thay đổi một xung lực khó chấp nhận qua một xung lực ở trạng thái dễ chấp nhận hơn. Ví dụ một đứa trẻ chẳng ưa gì cô giáo nhưng vẫn vui vẻ để lấy lòng cô giáo ấy để tránh bị phạt. Hoặc một người đồng tính không thể chấp nhận được những phản đối về sinh hoạt tính dục đồng tính từ phía dư luận xã hội nên đã công khai chống lại đồng tính (anh ta có phản ứng với dư luận tiêu cực qua việc nói dối). Một ví dụ điển hình thường thấy nơi các em gái ở độ tuổi 7–11, khi các em nói mình ghét các em trai, nhưng người lớn có thể nhận ra được cảm xúc thực của các em gái là rất thích các cậu bé. Nhiều ví dụ cho thấy các em ở tuổi dậy thì cố phản ứng bằng những ám hiệu được hiểu ngầm với nhau. Nhiều người lớn sử dụng xin lỗi để cải thiện một quan hệ. Họ dựa vào cơ chế tự vệ này để sửa đổi lại cảm xúc trong một mối quan hệ – mặc dù họ không nghĩ là mình có lỗi để phải xin lỗi.

Cơ chế tự vệ nhập tâm hay còn được gọi là tự vệ nhận định thể hiện qua cách tin rằng cá tính của người khác sẽ là nhân cách của mình để giải quyết những khó khăn trong phạm trù cảm xúc. Ví dụ một bé gái bị bỏ rơi thường chơi với búp bê và các con thú trong vài trò người mẹ để giải tỏa lo lắng và sợ hãi. Em đóng vai người mẹ để thay thế niềm tin khao khát có một người mẹ thương em. Hoặc chuyện các em nhỏ vẫn thích một nhân vật anh hùng nào đó từ ti vi hay từ phim ảnh và thích bắt chước các nhân vật ấy để khẳng định nhân cách của mình. Nhiều người tin rằng đây là một cơ chế quan trọng trong việc hình thành sườn mẫu siêu ngã (khung mẫu nhân vật lý tưởng trong tương lai).

Hoặc nhiều người vì phải đối điện với những hàng xóm có tính nết khó khăn, đua đòi… đã phải tự trang bị cho mình những cá tính để có thể ngang bằng với hàng xóm của họ: Đây là xu hướng ăn có hàng, ở có xóm hoặc đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy như vẫn thường thấy trong văn hóa Việt Nam. Một vài trường hợp nạn nhân của những vụ bắt cóc không nỡ giận kẻ bắt cóc mà còn thông cảm cho họ nữa. Hoặc chuyện có người bị cướp bắt cóc sau đó trở thành một thành viên của băng cướp ấy.

Cơ chế tự vệ hoài cổ là cơ chế khi một cá nhân quyết định lùi về thời gian quá khứ mỗi khi họ đương đầu với những khó khăn trước mặt. Ví dụ, mỗi khi gặp vấn nạn hoặc sợ hãi, hành vi của chúng ta thường muốn quay trở về não trạng của trẻ thơ khi chúng ta không phải lo lắng gì cả. Nhiều người cần phải có những kỷ niệm thời vàng son để có thể sinh hoạt bình thường. Có người dọn lên sống ở thành phố nhưng gặp những thử thách nên muốn dọn về quê sống. Hoặc nhiều người có tư tưởng yếm thế, để trở thành lệ thuộc và buông xuôi như thể họ là những trẻ em: Thông thường nhất là đôi lúc ta vẫn nghĩ lại về quá khứ và nhận ra chúng thật đáng yêu so với hoàn cảnh hiện tại.

Cơ chế tự vệ lý luận hóa là khả năng nhận thức và áp dụng có tính lý luận nhằm chuyển đổi những sự kiện có tính đe dọa trở thành dễ chấp nhận hơn. Ví dụ, chúng ta thường bào chữa để tự thuyết phục mình trên bình diện có ý thức về những sự kiện bất lợi xảy ra trong cuộc sống. Tuy nhiên với một số người do có cái tôi quá nhạy cảm nên họ thường có khả năng tạo ra những biện hộ quá dễ dàng. Nói khác đi, nhiều người trong chúng ta dễ dàng trong việc chấp nhận những biện hộ của mình. Nói một cách dễ hiểu là cơ chế tự vệ lý luận hóa chính là sự tổng hợp của cơ chế tự vệ chối bỏ (sự thật) và cơ chế tự vệ dồn nén (né tránh điều kiện sống trước mắt)

Tất nhiên mọi cơ chế tự vệ đều là những lời biện hộ để thuyết phục chính bản thân mình và diễn ra dưới phạm trù vô thức và có ý thức. Nói khác đi cơ chế tự vệ chính là cơ chế con người sử dụng để tự nói dối với chính mình. Nhiều người trong chúng ta sử dụng những cơ chế này một cách máy móc: Khi không có những hướng xử lý để điều tiết sự cân bằng giữa xung động vô thức và siêu ngã, cái tôi sẽ bị kéo giãn ra vì phải quán xuyến cho cả hai thái cực kia. Nói dối vì thế tiếp tục sinh ra nói dối và cuối cùng một cá nhân sẽ được điều kiện hóa trong tư duy và lối ứng xử của chính mình.

Tuy nhiên theo Freud thì vai trò của những cơ chế tự vệ này được coi như một bộ phận cần thiết để duy trì đời sống. Nói khác đi theo Freud thì Cơ chế tự vệ sẽ giúp một cá nhân có thể đương đầu với những thử thách khó khăn trong cuộc sống như một ngõ thoát hiểm cần thiết. Trong khi các học trò của ông tin rằng một số cơ chế tự vệ có thể sử dụng theo hướng tích cực, riêng cá nhân Freud tin rằng chỉ có một cơ chế tự vệ là có ích với con người đó là cơ chế tự vệ hoán chuyển.

Cơ chế tự vệ hoán chuyển là cách để một cá nhân chuyển đổi tư duy về những xung lực sang một ngã tích cực khác. Có thể những xung lực này là nhu cầu tính dục, giận dữ, sợ hãi, hoặc bất cứ những dạng xung lực nào. Cơ chế tự vệ hoán chuyển chuyển tải những xung lực sang một hình thái mới dễ được chấp nhận hơn. Ví dụ người có tính nóng thường thích theo đuổi nghề đấu võ đài, người có nhiều thất bại trong cuộc sống có thể chọn con đường tu hành, người có những khát khao xúc cảm có thể trở thành nhà thơ, nhà văn. Theo Freud chính nhờ cơ chế tự vệ này mà chúng ta có những bộ não siêu việt và con người đã đột phá vào rất nhiều lĩnh vực sáng tạo khác nhau.

7. Các giai đoạn phát triển

Theo Freud, dục năng là một nguồn năng lượng lớn nhất chi phối mọi nguồn năng lượng khác có ảnh hưởng lên con người. Theo Freud thì dục năng không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến người lớn mà còn có tác động rất rõ rệt lên trẻ em và trẻ sơ sinh. Khi Freud trình bày quan điểm của mình về tính dục nơi trẻ em, ông đã bị giới học giả lúc bấy giờ ở Viennaphản đối cực lực. Đơn giản là lúc đó dục tính với người lớn đã là một phạm trù tế nhị. Tính dục nơi trẻ em lúc bấy giờ càng là một vấn đề khó chấp nhận hơn.

Một thực tế được quan sát kỹ là ngay từ khi còn rất nhỏ (từ lúc mới sinh ra) khả năng đạt được cảm giác khoái cảm tính dục nơi trẻ sơ sinh đã xuất hiện. Nhưng mọi người đã hiểu sai quan điểm của Freud và nghĩ ràng ông nhắm đến dục tính trong giới hạn của giao hợp và phóng tinh. Tất nhiên Freud cho rằng tính dục cần được định nghĩa là những cảm xúc khoái lạc đem đến từ hệ thống da người. Và bằng chứng là từ trẻ em sơ sinh cho đến người lớn, chúng ta luôn tỏ ra thích thú với những va chạm như vuốt ve, xoa bóp, sờ nắn, nụ hôn…

Freud cho rằng ở mỗi giai đoạn phát triển của con người, một vùng da nên cơ thể sẽ có những phản ứng hứng thú khoái cảm cao nhất khi được kích thích. Nhiều học giả sau này đã gọi những vùng da ấy là khu vực nhạy cảm. Theo Freud thì con người trải qua những bước phát triển tâm tính dục sau:

(1) Giai đoạn miệng: là giai đoạn trẻ em sơ sinh có khoái cảm lớn nhất qua thao tác bú và đưa lên miệng cắn những vật thể gần bé. (Từ lúc mới sinh đến 1 tuổi hay chừng 18 tháng).

(2) Giai đoạn hậu môn: là giai đoạn bé tập trung vào khu vực hậu môn trong thao tác đại tiện mỗi khi bé đi vệ sinh. Khoái cảm xảy ra mỗi khi bé nín và thả cơ vòng hậu môn trong thao tác đại tiện. (Khoảng từ 2–3 tuổi, chừng 18 tháng).

(3) Giai đoạn bộ phận sinh dục nam: là giai đoạn bé có thích thú khám phá bộ phận sinh dục của mình, và chuyện bé thích nghịch bộ phận sinh dục của mình tương đối phổ biến. (Khoảng từ 3, 4 đến 5, 6 có khi đến 7 tuổi).

(4) Giai đoạn tĩnh lặng: là giai đoạn xung lực tính dục tạm thời bị nén lại để các em có thời gian tiếp thu những kỹ năng mới nơi trường học. Vào thời điểm này các em thường không tập trung quá nhiều vào mảng dục tính, tuy nhiên theo George Boeree (2006) có khoảng 25% các em có những hành vi thủ dâm, cao hơn nhiều so với thời gian nghiên cứu của Freud. (Giai đoạn này bắt dầu từ 5,6,7 tuổi trở đi cho đến năm 12 tuổi).

(5) Giai đoạn tập trung vào bộ phận sinh dục: là giai đoạn bắt đầu từ tuổi dậy thì khi cảm xúc tính dục tập trung vào khoái cảm giao hợp. Theo Freud, bất cứ những hành vi tính dục nào khác với giao hợp tự nhiên, chẳng hạn như thủ dâm, làm tình qua đường miệng, tính dục đồng phái và những hành vi tính dục khác (vốn được thực hiện rộng rãi trong xã hội hôm nay) đều được coi là những hành vi thiếu trưởng thành.

Đây là một học thuyết được các nhà tâm lý thuộc trường phái Freudian cổ vũ vì họ tin rằng tất cả mọi người đều trải qua những bước phát triển này.

8. Khủng hoảng Oedipus

Theo Freud, ở mỗi một giai đoạn phát triển sẽ có những nhiệm vụ khó khăn nhất định đối với một số cá nhân. Chẳng hạn như ở giai đoạn miệng, một số cá nhân sẽ có vấn đề nan giải với quá trình cai sữa. Giai đoạn hậu môn sẽ gây khó khăn cho nhiều cá nhân về chuyện đái dầm hoặc đi cầu đêm trên giường. Riêng với giai đoạn bộ phận sinh dục nam vấn đề khủng hoảng Oedipus gây ra khó khăn cho một số cá nhân. Đây là một hội chứng được Freud lấy tên của ông vua Oedipus trong truyện cổ Hy Lạp, khi ông vua này đã giết nhầm ông bố của mình và sau đó đã cưới mẹ ruột của mình.

Sau đây là mô tả về khủng hoảng Oedipus: các trẻ em đều yêu mẹ của chúng và muốn có được sự quan tâm của mẹ qua những âu yếm, vuốt ve. Đây là một trạng thái hiểu rộng hơn của nhu cầu dục tính. Các bé trai có đối thủ của mình là người cha với nhiều điều kiện vượt trội như: cha các em cao lớn hơn, khỏe hơn, thông minh hơn. Nhất là người cha được quyền ngủ chung với mẹ trong khi bé trai phải ngủ riêng một mình. Vì thế người cha vô tình trở thành một đối thủ của em.

Ngoài ra các bé trai còn phát hiện ra sự khác biệt giữa mình và các bé gái. Không phải chỉ là tóc các bé trai ngắn hơn và quần áo có màu sắc khác với các bé gái. Các cậu bé sẽ phát hiện ra mình có một dương vật trong khi các bé gái không có. Tất nhiên với não trạng của bé trai thì có một cái gì đó vẫn tốt hơn là không có. Và các bé trai bằng lòng với điều này.

Khi các bé trai nhận ra các bé nữ không có dương vật, các bé sẽ hỏi: Vậy điều gì đã xảy ra? Các bé nữ dã bị mất dương vật, có thể là do bị cắt. Và các bé trai sẽ lo sợ. Điều này bắt đầu dẫn đến não trạng lo lắng mình sẽ bị thiến bởi cha ruột của mình. Đây là một dạng biến thể của nỗi lo mình sẽ bị mất dương vật.

Tất nhiên là các bé trai sẽ lo lắng và sợ cái oai của ông bố và lo sợ về dương vật của mình bị cắt đi. Nỗi lo này đi vào những cơ cấu tự vệ của các em. Thế là bé trai sau đó sẽ dần dần thay thế tình cảm với mẹ ruột của mình bằng tình cảm với các em gái. Khi lớn lên, các em sẽ chuyển năng lượng và tập trung vào những phụ nữ khác. Các bé trai cho rằng mình cần phải phát triển một cách chủ động, mạnh mẽ và có ý định lớn lên sẽ phải giống như bố – trở thành một người đàn ông. Sau vài năm trải qua thời kỳ tĩnh lặng, các cậu bé trải qua tuổi dậy thì và trở thành một người đàn ông thực thụ.

Các bé nữ cũng bắt đầu từ tình cảm giành cho mẹ mình. Theo Freud thì các bé nữ trải qua một hội chứng ghen vì mình không có dương vật khi bé nữ phát hiện ra có sự khác biệt giữa cơ thể bé nữ với các bé nam. Thế là các em cũng muốn có một cái dương vật giống như thế và cả những đặc tính đi kèm với một dương vật (như đứng đái). Dần dần một bé nữ tìm đến và thay thế cho một dương vật là con búp bê (như em bé). Và các em nữ biết rõ phải có cha với mẹ thì mới sinh ra em bé được, thế là các em nữ để mắt đến người cha.

Tất nhiên là cha của các bé gái đã có mẹ. Thế là, các bé nữ thay thế cha bằng các bé nam khác. Lớn lên là nữ giới, nên bé cần phải phát triển những phẩm chất đặc tính giống nơi mẹ. Một điều nhận ra ở đây là các bé gái không trải qua hội chứng lo lắng bị thiến nên phụ nữ thường có thái độ không phân biệt về tính dục– khác phái như ở như nam giới. Vì thế họ thường có vẻ không quan trọng lắm lý luận đạo đức như ở nam giới.

9. Nhân cách và cá tính

Kinh nghiệm sống khi chúng ta lớn lên đã góp phần tạo nên nhân cách hay còn gọi là cá tính của chúng ta để trở thành một người lớn có những nét đặc trưng rất riêng. Theo Freud thì những ký ức khó chịu chính là những vết thương lòng, vốn có những tác hại tâm lý rất lớn. Tất nhiên mỗi kinh nghiệm đau thương sẽ có những mức độ ảnh hưởng tác động khác nhau và chỉ có cá nhân đó mới có thể khám phá, thẩm định được mức độ ảnh hưởng của kinh nghiệm đó. Như thế những kinh nghiệm ký ức khó chịu xảy ra trong những giai đoạn phát triển tâm tính dục đã nêu ở phần trên sẽ có những ảnh hưởng đến cá tính con người.

Nếu một cá nhân có những khó khăn trong việc thành thục những nhiệm vụ của từng giai đoạn phát triển như cai sữa, tập đi cầu, hay trong giai đoạn xác định giới tính của mình, chính những khó khăn này sẽ tồn tại như những ký ức vấp váp vì họ đã không vượt qua được những nhiệm vụ quan trọng cột mốc này. Nếu bị ách tắc trong việc đạt được mức độ thành thục sẽ dẫn đến trạng thái khựng và những kinh nghiệm bị khựng này sẽ hằn dấu ấn và lưu lại trong tiềm thức của các em, gây ảnh hưởng đến các giai đoạn phát triển sau này cũng như có ảnh hưởng đến quá trình hình thành cá tính của một cá nhân.

Vì thế khi một cá nhân không được cho bú sữa đầy đủ hoặc bị bỏ đói, khát nước, hoặc được cai sữa quá sớm, khi lớn lên, các em sẽ có những cá tính liên quan đến miệng như ăn vặt, nói chuyện nhiều, hay tắc lưỡi, hay nhổ nước miếng, nói lắp, hút thuốc, huýt sáo và những hành vi này được coi như việc bù lại những thiếu sót của ngày xưa.

Ở thời gian từ 5 đến 8 tháng tuổi, khi mọc răng các em bé sẽ bị ngứa lợi. Nếu nhu cầu được cắn một vật gì đó cho bớt ngứa không được đáp ứng, cộng với việc em có thể bị cai sữa quá sớm, một cá nhân có thể phát triển thành cá tính thích gây gỗ qua đường miệng. Ví dụ thường là người thích cắn móng tay, cắn bút chì, cắn hạt dưa, và thích cắn người khác và là người có khuynh hướng ăn nói thiếu trách nhiệm, cố ý gây thương tổn đến người khác.

Vào giai đoạn phát triển hậu môn, nhiều bé rất ngạc nhiên về những chức năng vận hành của cơ thể. Đầu tiên trẻ em có thể đi cầu bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Rồi khi phát triển lớn hơn, một em bé sẽ hiểu ra mình phải đi vệ sinh ở đâu và vào lúc nào. Tất nhiên sự cổ vũ của cha mẹ đã có một ảnh hưởng tích cực rất rõ rệt.

Thái độ mừng vui của cha mẹ khi trẻ em thực hiện đúng các thao tác đi vệ sinh và tỏ vẻ thất vọng thái quá khi bé làm sai sẽ khiến cho bé lớn lên có tính cách xoay quanh hậu môn. Khi lớn lên họ sẽ trở thành người lộn xộn thiếu ngăn nắp, luộm thuộm và rất xuề xòa, cẩu thả, bừa bãi. Lớn lên các bé có thể là người độc ác, phá hoại, và xâm phạm tài sản và của công.

Nhiều bậc phụ huynh nôn nóng trong việc thúc ép các em trong việc thôi sử dụng tã và yêu cầu các em phải chủ động trong việc đi vệ sinh. Các bậc cha mẹ này đã không ngần ngại trong việc áp dụng hình phạt, chế nhạo và kết quả là nhiều em cố gắng hết sức mà không thực hiện được. Vì thế khi lớn lên sẽ trở thành những người có nhân cách tiện tặn, dè sẻn, rất sạch sẽ, cầu toàn, gia trưởng, độc đoán, và rất keo kiệt.

Có hai nhân cách ảnh hưởng trong thời gian phát triển bộ phận tính dục nam. Nếu bé nam bị mẹ em ruồng bỏ và bị đối xử hà khắc bởi người cha, khi lớn lên em sẽ phát triển thành một người có tâm trạng rất yếm thế về khả năng của mình khi đối diện với bức tranh sinh hoạt tính dục. Người như thế sẽ dễ co cụm trong sinh hoạt tính dục với người khác phái. Các bé trai này có thể là người đam mê đọc sách, hoặc cố tình tạo ra vẻ mình là người ga lăng với phụ nữ.

Nếu các em gái bị cha mình xa lánh bỏ rơi và bị mẹ mình làm cho sợ, khi lớn lên các bé gái này sẽ có khuynh hướng không có đủ tự tin vào bản thân, là người nhút nhát co cụm, và thường là những cô gái đỏng đảnh khác thường.

Nhưng nếu một bé trai không bị mẹ hắt hủi lại được thương mến bởi một người cha hiền lành nhu nhược, lớn lên bé sẽ gặp nhiều khó khăn khi hội nhập vào thế giới người lớn vì không ai yêu thương chàng trai ấy như bố mẹ của anh ta. Nếu một cô gái được nuôi dưỡng bởi một người cha chiều chuộng quá mức và một người mẹ quá dễ dãi trong nhà, bé gái ấy sẽ dễ trở thành với một cá tính tiểu thư, ích kỷ, có thể phát triển một nhân cách đầy nam tính.

Những cá tính trong thời gian phát triển bộ phận sinh dục nam cho thấy quá trình chăm sóc của bố mẹ sẽ dẫn đến những phát triển thái cực khác nhau. Nếu một trẻ em có bố mẹ quá khó khăn hoặc được chiều chuộng quá mức sẽ dẫn đến những phát triển không thuận lợi sau này. Những trục trặc trong một giai đoạn phát triển tâm tính dục sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực sau này. Sự thực là nhiều vấn đề có thể được xử lý và chặn đứng. Điều này cho thấy trong bối cảnh đời sống phong phú, chúng ta luôn thấy có rất nhiều những nhân cách rất khác biệt nhau.

10. Áp dụng vào trị liệu

Áp dụng vào trị liệu được coi là một trong những thế mạnh của thuyết phân tích tâm lý, dưới đây là những điểm son trong cách thức trị liệu của học thuyết này:

– Môi trường thả lỏng: trong đó thân chủ được tự do trong cảm xúc và có thể phát biểu tất cả những gì được họ suy nghĩ. Môi trường trị liệu phải được coi là một môi trường rất đặc trưng, là nơi mà thân chủ không có bất cứ một lo lắng quan ngại hay sợ sệt nào. Thân chủ sẽ không bị chất vấn hoặc chỉ trích. Trên thực tế, trong liệu pháp phân tích tâm lý, sự có mặt của tư vấn viên sẽ gần như là biến mất. Phòng trị liệu thường có ánh sáng mờ, một ghế bành tiện nghi, thoải mái, thoáng mát, và phòng trị liệu cần có một hệ thống giữ kín âm thanh:

– Tự do liên tưởng: là cách thân chủ sẽ nói về tất cả những gì xảy đến trong tâm trí họ. Với hy vọng rằng trong môi trường tự do thoải mái sẽ tạo điều kiện để những vấn đề thuộc khu vực vô thức sẽ có cơ hội xuất hiện trên bề mặt. Người ta thấy liệu pháp theo trường phái Freudian rất chú trọng đến phân tích giấc mơ. Trong đó các tư vấn viên sẽ được huấn luyện để chọn lọc những mấu chốt quan trọng trong giấc mơ. Khi thân chủ chia sẻ những tự do liên tưởng, tư vấn viên sẽ lắng nghe để tìm ra cội rễ của vấn đề.

- Phân tích chống đối: là một kỹ năng để tư vấn viên phát hiện ra những chống đối của thân chủ. Các thân chủ thường tỏ thái độ chống đối bằng cách thường xuyên thay đổi đề tài, lảng tránh, bỏ lửng, tỏ vẻ buồn ngủ, đến hẹn muộn, hoặc bỏ ngang các cuộc hẹn. Hơn nữa, các tư vấn viên sẽ vạch ra những điều tồn đọng được thân chủ thể hiện một cách vô thức. Từ đó tư vấn viên sẽ động viên thân chủ vượt qua những rào cản để đến với trạng thái tự do liên tưởng.

– Phân tích giấc mơ: thuyết phân tích tâm lý tin rằng trong giấc ngủ con người sẽ giảm bớt những kiềm chế từ khu vực vô thức và như thế sẽ tạo điều kiện cho những vấn đề xuất hiện có nội dung thông điệp gửi đến con người qua hình thái biểu tượng. Giấc mơ cho phép tư vấn viên truy cập những đấu mối về những bức xúc nằm trong khu vực xung động vô thức. Hiện có nhiều liệu pháp sử dụng phân tích giấc mơ trong việc tìm ra hướng giải quyết; tuy nhiên trường phái Freudian thường chú trọng đến nội dung giấc mơ có liên quan đến tính dục.

– Nói vấp: Là những câu nói lỡ miệng của thân chủ. Freud tin rằng những câu lỡ miệng là nguồn cung cấp những đầu mối rất tốt về những mâu thuẫn từ cõi vô thức. Freud cũng đặc biệt quan tâm đến những câu nói đùa của thân chủ. Freud tin rằng bất kể câu nói nào của thân chủ đều có giá trị nhất định phục vụ cho công tác trị liệu, và như thế chuyện bấm nhầm số điện thoại, quẹo sai đường, hoặc đánh vần sai chính tả một chữ sẽ là những khu vực đáng chú ý trong trị liệu sử dụng thuyết phân tích tâm lý.

Một số những nhà trị liệu theo phái Freudians có vẻ hứng thú với kỹ thuật kiểm tra biểu lộ cảm xúc vô thức như cách kiểm tra nổi tiếng Rorscharch hay còn gọi là trắc nghiệm hình vẩy mực. Chủ đích của cách kiểm tra này là đưa ra những hình ảnh có nội dung rất mờ mịt và thân chủ được hỏi xem họ đã nhìn thấy những gì? Những gì mà thân chủ nhìn thấy thường đến từ vô thức và điều đó sẽ giúp cung cấp những dữ kiện cần thiết cho tiến trình trị liệu.

Một ví dụ của (Rorscharch inkblot test) sẽ hỏi bạn nhìn thấy gì?

11. Liên tưởng, giải tỏa và nhận thức

Liên tưởng: là xảy ra khi một thân chủ nghĩ rằng nhà trị liệu là một người thân của họ. Freud tin rằng liên tưởng sẽ giúp quá trình trị liệu khi tư vấn viên giúp thân chủ đem những ký ức đau thương và những cảm xúc khó chịu trong quá khứ lên trên bề mặt hiện tại. Đây là một cách trị liệu rất tốt. Vì chúng ta khó có thể xử lý vấn đề giận dữ với ai đó mà không có một người đối diện để ta giận. Và quan hệ giữa thân chủ và điều trị viên là một quan hệ rất gần gũi trong liệu pháp phân tích tâm lý theo trường phái Freudian.

Thả lỏng: là hiện tượng cảm giác xúc động đổ ra một cách ồ ạt và bất ngờ. Đây là lúc những cảm xúc về những ký ức đau đớn được tái diễn lại. Các tư vấn viên được khuyến khích trong văn phòng luôn có sẵn khăn giấy để giúp thân chủ lau nước mắt khi cơn xúc động dâng lên.

Nhận thức: là tình trạng ý thức được nguồn cam xúc, và nhận thức rõ về nguyên nhân cội rễ của những sự kiện đau đớn. Nhận thức cho phép thân chủ có thể xác định được mấu chốt của vấn đề một cách cụ thể. Liệu pháp phân tích tâm lý chỉ có thể coi là đạt được kết quả khi trạng thái thả lỏng và nhận thức về cốt lõi của vấn đề được rút ra. Đây thường là những vấn đề trong quá khứ mà thân chủ lúc đó còn quá nhỏ để có thể xử lý, hoặc có quá nhiều vấn đề cùng xảy ra trong thời kỳ ấu thơ. Một khi xác định và xử lý được nguồn gốc của nan đề, thân chủ sẽ là người hạnh phúc và an bình hơn trước. Freud đã nói rằng nhiệm vụ của liệu pháp là biến vô thức trở thành có ý thức.

12. Thảo luận

Có lẽ điểm yếu nhất của thuyết phân tích tâm lý của là Freud nằm ở chỗ ông đã đặt ra vấn đề hội chứng khủng hoảng Oedipus và hệ quả của nó là các em nam luôn lo lắng sẽ bị thiến và các em nữ có cảm giác ghen vì không có dương vật. Thật khó mà xác định được nếu như có hiện tượng các em bé yêu cha mẹ khác phái và tranh giành với cha mẹ cùng phái? Liệu có chuyện một số em nam sẽ sợ mình bị thiến? Có thật không nếu các em nữ có tính ghen vì mình không có dương vật?

Nhiều nhà học thuyết nhân cách cho rằng những điều vừa nói trên chỉ mang tính chất dị biệt khác thường chứ không có tính áp dụng phổ cập, và đây là những trường hợp ngoại lệ nhiều hơn là luật định. Nếu có, thường đây sẽ là các em bé sinh trưởng trong một gia đình mà quan hệ giữa con cái cha mẹ không được phát triển hòa thuận và con cái được đưa ra làm những lá chắn trong những vụ cãi vã. Hoặc trong những gia đình mà cha mẹ hay nói về chuyện “cắt chim" (thiến), chứ trẻ em thường không đủ trí khôn để suy nghĩ vấn đề quá xa.

Và như thế các hiện tượng nêu trên chỉ nên hiểu theo ý nghĩa tham khảo chứ không nên coi nặng về mặt áp dụng. Và tất nhiên đây có thể là một giải đáp cho một số nhỏ các thân chủ nên tư vấn viên không coi đây là đáp số chung cho tất cả mọi người. Tuy nhiên những đóng góp về khu vực này của Freud đã cho chúng ta những nhận xét cơ bản về những giải thích khi các em bắt chước cha mẹ trong hành trình phát triển nhân cách của mình để trở thành người lớn.

13. Bức tranh tính dục

Một số lớn những góp ý của giới chuyên môn với thuyết của Freud là thuyết này đặt nặng vào tính dục. Theo Freud, tất cả những hành vi của con người, tốt và xấu đều nằm ở chỗ con người có khả năng biểu cảm một cách trưởng thành hoặc phải dồn nén dục năng của mình lại. Nhiều người đã chất vấn rằng liệu sẽ có những xung lực khác góp phần ảnh hưởng đến phạm trù nhân cách? Để trả lời câu hỏi này, Freud đã dưa ra bản năng được chết và điều này càng khiến cho những suy nghĩ trong học thuyết của ông có vẻ kém hấp dẫn hơn.

Trong đời sống hiện đại, nhìn vào mọi khía cạnh của cuộc sống, ta luôn thấy sự xuất hiện của tính dục như một điều khó tránh khỏi. Hầu như trong mọi ngõ ngách của đời sống, tính dục luôn là một bộ phận không thể xem nhẹ. Freud là người đã tiên phong trong thời đại của mình khi ông nêu lên những nhận định rất gai góc. Cần nhớ rằng vào thời điểm đó các bác sĩ và tôn giáo đã cấm nặng chuyện thủ dâm. Ngay cả các từ ngữ như cổ, đùi, ngực, lông… đều là những chữ kỵ húy. Phụ nữ không được công khai bày tỏ cảm xúc dục tính, và cô dâu trong đêm động phòng phải giả vờ ngất xỉu đi.

Và như thế Freud đã là người rất dũng cảm trong thế hệ của mình. Tuy nhiên trở ngại của Freud là dã hệ thống hóa quá xa và đã không đưa bối cảnh văn hóa vào học thuyết của mình. Tuy nhiên dưới sự khởi xướng của ông, nhiều người đã bắt đầu xắn tay nhập cuộc vào một lĩnh vực gai góc: Phạm trù tính dục trong tâm lý học.

14. Vô thức

Một khái niệm được nhiều người tranh cãi nhất là khái niệm vô thức. Vấn đề này được đem ra bàn cãi là con người có bao nhiêu vô thức? Hình thái và vai trò của vô thức đã có ảnh hưởng đến nhân cách nơi người như thế nào?

Những nhà học thuyết hành vi, nhân văn học và thuyết hiện sinh tất cả đều tin rằng: (1) động cơ của con người và những vấn đề của con người đến từ vô thức, nhưng theo họ thì ảnh hưởng của vô thức lên tư duy và hành vi của con người ít hơn rất nhiều so với Freud. Và (2) vô thức không phải là cái lò nung thúc đẩy con người ứng xử như ta đang nhìn thấy hôm nay. Nhiều nhà tâm lý hiện đại đã không công nhận khái niệm vô thức là cần thiết. Nhiều người đã từ bỏ không áp dụng khái niệm vô thức này vào liệu pháp.

15. Những khía cạnh tích cực

Mặc dù có nhiều ý kiến không ủng hộ và chính bản thân Freud có những ý kiến không thuyết phục lắm, song ông đã để lại những tư tưởng rất phong phú và có tính ứng dụng vào nhiều học thuyết khác. Tuy nhiên người ta đã vô tình quên đi và không trao cho ông những vị trí xứng đáng cần thiết.

Trước tiên, Freud đã khiến chúng ta nghĩ đến hai thái cực xung lực và những ảnh hưởng của chúng lên tâm thức con người. Vào thời đó con người được tin là có khả năng lý luận. Ông đã mạnh dạn chỉ ra rằng hành vi của con người thực ra đã chịu sự tác động của sinh học. Giữa lúc đó mọi người cho rằng mỗi cá nhân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mình thì ông đã cho thấy ảnh hưởng của xã hội lên những hành vi của con người. Khi mọi người cho rằng vai trò và vị trí của phụ nữ và nam giới được chi phối bởi tự nhiên hay Thượng Đế thì Freud đã giới thiệu ảnh hưởng của đời sống sinh hoạt trong quan hệ gia đình. Tất nhiên xung động vô thức và siêu ngã luôn là một bộ phận của đời sống con người ở trong một hình thái tâm thức nào đó – và đây là điểm son trong học thuyết của Freud.

Thứ hai, ông đã giúp chúng ta nhận ra một điểm tích cực đáng chú ý trong quá trình giáo dục bằng cách nêu ra rằng một tuổi thơ đầy những bạo lực, bị hất hủi, hoặc trải qua nhiều nghịch cảnh tai ương sẽ dễ phát triển trở thành một người trưởng thành không có hạnh phúc. Chính Freud đã là người khởi xướng suy nghĩ cho rằng những vết thương trong quá khứ có thể sửa chữa lành và tái thiết kế lại. Ông cho phép chúng ta cơ sở để giải thích, mổ xẻ, và hàn gắn lại những vết thương trong quá khứ.

Thứ ba, khái niệm cơ chế tự vệ để bảo vệ cái tôi là một đóng góp quan trọng. Theo đó, ông đã lý giải về việc chúng ta sử dụng những cân nhắc và tính toán để đạt được sự cân bằng giữa điều kiện hoàn cảnh thực tế và nhu cầu tư duy tâm lý cá nhân. Chính những cơ chế tự vệ mà ông nêu ra đã thật sự giúp nhiều người có thể xác định được những vấn đề thường gặp trong cuộc sống.

Sau cùng, những hướng dẫn trong trị liệu đưa ra bởi Freud trong đó việc sử dụng tư vấn viên như một điểm tựa cho quá trình liên tưởng để thân chủ có thể đào sâu vào quá khứ là một hình thức liệu pháp có kết quả rất cao. Ngoài ra liệu pháp "nói chuyện để chữa bệnh" trong bối cảnh phòng ốc với sự thoải mái xem ra là một áp dụng vẫn rất thịnh hành hiện nay.

Một số ý tưởng của Freud gắn liền với thời đại và văn hóa nơi ông đã sống. Nhiều ý tưởng tuy khó có thể kiểm chứng được trong bối cảnh lúc ấy nhưng có thể hiểu dễ dàng hơn ở hôm nay. Nhiều ý tưởng của ông được coi là kinh nghiệm cá nhân và được lấy ra từ nhân cách riêng của ông. Tuy nhiên dù sao ông vẫn xứng đáng là một trong những nhà quan sát có trách nhiệm về những điều kiện sinh hoạt của con người. Những gì ông nói mãi mãi sẽ là một phần quan trọng của những trang sách giáo khoa tâm lý nhiều năm nữa. Ngay cả những nhà học thuyết mới khi xây dựng những học thuyết nhân cách của mình đã luôn luôn so sánh và đối chiếu học thuyết của ông.

Như thế có thể nói Sigmund Freud (1856–1939) thật sự xứng đáng là một người có những đóng góp rất lớn vào sự nghiệp di sản tâm lý học của nhân loại ngày hôm nay.

Tác giả: Nguyễn Thơ Sinh
Trích trong ‘Các học thuyết tâm lý nhân cách
Trở về danh mục
Ghi chú: Bạn có thể tham khảo thêm một số tác phẩm của Sigmund Freud (1856–1939) tại Blog chuyendaudau.blogspot.com.

NGÀY XUÂN BÀN CHUYỆN ĐỌC SÁCH

Đầu xuân phố sách vui rộn ràng, chương trình We Love Reading cũng khơi gợi trẻ niềm đam mê đọc sách: https://www.facebook.com/events/224895771406829/
Dịch giả Vũ Danh Tuấn cũng vừa có hai bài lì xì đầu năm cho độc giả về hướng dẫn cha mẹ giúp con đọc sách:
https://www.facebook.com/Vu.Roger/posts/1561568060631562
https://www.facebook.com/Vu.Roger/posts/1563434003778301

Hẳn ai cũng biết chuyện đọc sách rất quan trọng. Đọc sách là một hình thức giải trí và tự học. Nếu duy trì được thói quen đọc sách, kiến thức con người - dù đã bước qua cánh cửa trường học bao năm - vẫn được mở rộng cho đến hết cuộc đời. Sách vừa là người bạn, vừa giúp định hình tính cách, hướng con người đến kiến thức và những điều tốt đẹp.
Ngày mình còn nhỏ đã may mắn lớn lên cùng với tủ sách của bố mẹ. Tuy không có ai dẫn dắt, nhưng mình tự hình thành sở thích đọc sách một cách tự nhiên. Thuở ấy chưa có truyện tranh, mình đọc bắt đầu bằng bộ Tây Du Ký, rồi thích, rồi đọc đi đọc lại. Lớn lên nữa thì các truyện cổ tích, dân gian như Trạng Quỳnh, Xiển Bột, từ các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Công Hoan của Việt, rồi Tam Quốc, Chinh đông chinh tây của Tàu cho đến các đầu sách văn học kinh điển phương Tây. Cuối cấp 1 thì làm quen với truyện tranh Nhật Bản bắt đầu từ 10 tập Doremon đầu tiên, sau đó là Dũng sĩ Hesman, 7 viên ngọc rồng, Thủy thủ mặt trăng. Mình cũng yêu thích sách khoa học từ bộ 2 cuốn Vật lý vui, rồi bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao, Chìa khóa vàng. Sau đấy rồi đắm chìm trong các tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, nói chung là có gì đọc nấy.
Sách xưa hiếm nhưng quý và nội dung hay. Sách nay nhiều nhưng sách nhảm cũng nhiều. Trẻ bây giờ có tivi, ipad, smart phone nên không nhiều trẻ ham đọc sách. Bố mẹ bây giờ cũng khó khăn hơn trong công cuộc dẫn dắt con ham thích đọc sách. Đi hiệu sách không khó để bắt gặp những cậu bé nhỏ say sưa bên quầy truyện tranh dài tập, hay những đôi bạn trẻ rủ nhau đi mua sách ngôn tình, đam mỹ bây giờ. Gu của tụi trẻ bây giờ khác, nó không theo mong ước của người lớn, là xây dựng được cho con một nền tảng văn hóa đọc tốt giàu tính nhân văn, chống lại những lệch lạc và những thói xấu của xã hội. Thỉnh thoảng trong những câu chuyện con kể mình nghe có bóng dáng của Shin cậu bé bút chì, Jeff the killer, hay cướp biển Luffy trong One piece. Con nghe bạn kể một cách hào hứng, và kể lại cho mẹ nghe cũng một vẻ say mê. Mình hiểu là sức mạnh, bạo lực, vui nhộn, ít chữ là những gì dễ thu nạp vào đầu một đứa trẻ. Nó không cần suy nghĩ nhiều khi đọc, nó thấy hấp dẫn và mơ mộng mình được như các nhân vật trong truyện. Các tiểu thuyết kinh điển nổi tiếng, dù dành cho trẻ em như Pippi tất dài, Tottochan cô bé bên cửa sổ, Những tấm lòng cao cả, nhưng sức thu hút kém hơn bởi hàm lượng chữ dày và trẻ phải ngẫm nghĩ nhiều khi đọc. Khi cái gu đọc đã hình thành thì thật khó thay đổi nó, bởi vậy ước muốn của mình là từ nhỏ đã cho con tiếp xúc thật nhiều với những cuốn sách giá trị, như là tiêm một liều vacxin chống lại dịch bệnh truyền nhiễm từ môi trường sống. Mình luôn tin rằng những đứa trẻ đã đọc qua Những tấm lòng cao cả, Không gia đình, sẽ trở thành những đứa trẻ nhân ái. Sách ở giai đoạn này giúp hình thành nhân cách của trẻ. Nên mình không thả cho con tự chọn sách giống như bạn nó, mình cố gắng cân bằng giữa thể loại con thích và thể loại mình muốn con đọc.
Chìa khóa để giúp con yêu thích đọc sách thật giản đơn nhưng mãi mình mới nhận ra, đấy là đọc cho con nghe ngay từ khi con nhỏ. Trước kia, mình thấy shop bán đồ trẻ em có bán cả sách vải cho bé dưới 1 tuổi. Lúc đó mình nghĩ bé dưới 1 tuổi thì đọc được gì nhỉ, cầm nghịch như đồ chơi thôi, nhưng hóa ra mục đích là để trẻ quen thuộc với sách từ khi còn nhỏ. Mình cũng đã không hiểu sao cha mẹ phương Tây cứ phải đọc sách cho con hàng đêm trước khi đi ngủ, người Việt không bao giờ có thói quen như vậy. Giờ thì mình cũng hiểu, họ đang gieo mầm cho niềm đam mê đọc sách của trẻ. Đứa trẻ được cha mẹ đọc sách cho từ bé sẽ thích sách một cách tự nhiên, vì đấy cũng là một kênh cung cấp kiến thức cho bản tính ham tìm tòi học hỏi của trẻ, là nơi trẻ thỏa mãn trí tưởng tượng về thế giới thần tiên trong những câu chuyện cổ tích, là một phương tiện liên kết hữu hiệu giữa cha mẹ và con. Không gì thú vị hơn là trẻ được ngồi bình yên trong lòng mẹ, nghe mẹ đọc truyện và nói chuyện với mẹ về nội dung cuốn sách. Khi thói quen và niềm yêu thích đọc sách được hình thành, khi lớn dần lên, trẻ trở thành người đọc sách độc lập vẫn duy trì thói quen và niềm yêu thích đó.
Vậy đó, nếu cha mẹ làm tốt 2 việc: chọn được những đầu sách hay cho con, và tạo dựng thói quen đọc sách từ nhỏ, thì cha mẹ đã tạo cho con những nền móng đầu tiên trong thế giới sách là niềm đam mê và gu thẩm mỹ sách. "Today a reader, tomorrow a leader".

Sunday, February 11, 2018

HƯỚNG NGOẠI HAY HƯỚNG NỘI?


Thời học phổ thông, mình được các bạn liệt vào dạng ít nói, ít giao du, dù cũng từng trải qua cả chức lớp trưởng, bí thư, lớp phó học tập. Lưu bút trên áo đồng phục của mình, có bạn viết đề tặng "Bí thở không có nghĩa là ngừng thở đâu nhé bí thư"
Ngày đó mình cũng không hiểu sao mình lại như vậy, rõ ràng mình không nhút nhát, cũng không phải là không cần có bạn bè, nhưng như vậy mình mới cảm thấy thoải mái. Mình có thể tự tin điều hành một buổi đại hội chi đoàn, nói trước lớp mà không thấy run, nhưng khi tụ tập bạn bè thì hầu như là chẳng biết nói chuyện gì cả, những lúc vui nhất như liên hoan, hát hò thì mình cũng thích chui vào một góc. Mình cũng có một cô bạn thân, và chỉ thích nói chuyện với bạn ấy mà thôi. Sinh nhật mình, mình chỉ ước đừng có ai nhớ đến! Rất nhiều lúc mình đã ước ao trở thành một người khác, như bạn lớp trưởng lớp mình thời ấy, để có thể trở thành người tích cực trong các hoạt động, liên hoan, dã ngoại, quen biết nhiều người, nói năng hoạt bát, dễ dàng kết nối.
Nhiều năm sau này, khi xem video TED talk của Susan Cain, và sau đó là đọc cuốn Quiet (Hướng nội) của cô ấy, mình mới hiểu tại sao. Mình là người hướng nội giống cô ấy, thậm chí ở mức cao. Mình cũng dừng chỉ trích bản thân mình vì không giống những người khác, mà nhận ra tính cách đó cũng đem lại cho mình nhiều lợi thế, nhưng vẫn phải đấu tranh giằng co giữa sự thoải mái của bản thân và lợi ích của việc kết nối với nhiều người khác.

img466

Người hướng nội là người tìm thấy năng lượng khi ở một mình, và tiêu hao nhiều năng lượng khi ở trong đám đông. Ở giữa đám đông với nhiều kích thích có thể khiến những người hướng nội mệt mỏi, kiệt sức, và cần nhiều thời gian khôi phục bằng cách ở một mình. Những người hướng nội có xu hướng thích sự yên tĩnh, thích làm việc độc lập, khả năng tập trung cao. Họ cũng thích dành năng lượng giao tiếp của mình cho người thân, những bạn bè, đồng nghiệp gần gũi nhất trong một nhóm nhỏ thay vì những bữa tiệc giao lưu đầy người lạ. Họ là tuýp người thận trọng, lắng nghe nhiều hơn nói, suy nghĩ nhiều trước khi nói, thích những chủ đề sâu sắc quen thuộc thay vì nói chuyện phiếm. Họ không thích xung đột và ghét bị người khác đánh giá, theo dõi. Họ thích những không gian quen thuộc, ghét sự thay đổi, ưa sự an toàn. Họ có thể để ý những chi tiết nhỏ, có năng khiếu sáng tạo, có định hướng triết học hoặc tâm linh hơn là định hướng vật chất. Họ diễn đạt bản thân mình bằng chữ viết tốt hơn lời nói.
Người hướng ngoại được mô tả là những người nạp năng lượng từ đám đông. Họ cần những kích thích, thích giao tiếp với những người khác. Họ là những người đem đến sức sống cho bữa tiệc hay bất cứ sự kiện nào. Họ khó chịu khi phải ở một mình, hay những chỗ vắng vẻ, tĩnh mịch. Họ thường rất sảng khoái, chủ động, quả quyết, và luôn cần có bạn bè. Họ là những người quảng giao và giỏi kết nối. Họ thích nói hơn là lắng nghe, và là những người diễn thuyết giỏi. Họ cũng ưa thích mạo hiểm và sẵn sàng làm những việc rủi ro, đưa ra quyết định nhanh chóng.

Là người hướng ngoại hay hướng nội được định hình do gen từ khi sinh ra và chịu tác động của môi trường sống. Những người được cho là nhạy cảm với kích thích của môi trường từ khi còn sơ sinh lớn lên sẽ nhiều khả năng trở thành người hướng nội. Một phần khác sẽ được quyết định bởi ý chí (do môi trường sống tạo thành), nhưng như sợi dây chun co giãn, người hướng nội có thể cố gắng thay đổi tính cách trở thành hướng ngoại, nhưng chỉ đến một mức độ giới hạn. Cũng có những người mang một nửa tính cách hướng nội và một nửa hướng ngoại. Khi nền văn minh công nghiệp hình thành lấn át nền văn minh nông nghiệp, tính cách hướng ngoại đưa đến nhiều lợi thế vì môi trường công nghiệp cần làm việc theo nhóm, kết nối nhiều người với nhau. Vì vậy hiển nhiên là một người thành đạt sẽ được mô tả như một người hướng ngoại điển hình: quảng giao, kỹ năng nói và thuyết trình tốt, xông xáo, quyết đoán, ưa mạo hiểm, nổi bật trước đám đông. Tuy vậy, lịch sử đã chứng minh những người hướng nội cũng gặt hái được nhiều thành công trong các lĩnh vực cần tư duy sâu sắc và sáng tạo như khoa học, nghệ thuật (Newton, Einstein, Chopin, Dr. Seuss), lãnh đạo (Larry Page, Bill Gates), và thậm chí cả chính trị (Eleanor Roosevelt, Gandhi, Abraham Lincoln). https://www.inc.com/john-rampton/23-amazingly-successful-introverts-throughout-history.html
https://www.huffingtonpost.com/2015/08/15/famous-introverts_n_3733400.html
Susan Cain TED talk - The power of introverts: https://www.youtube.com/watch?v=c0KYU2j0TM4

Thursday, November 23, 2017

NGHĨ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Hôm nay tự nhiên bắt gặp một bài viết của tác giả Nguyen Huu Hop về tình trạng học thuộc lòng, thấy liên kết ý tưởng với nhiều bài viết tương tự mình đã đọc, thế là lại muốn viết một bài về thực trạng chung của giáo dục Việt Nam từ thời mình đi học, cho đến giờ con mình học vẫn không thấy nhiều thay đổi.
-------------- HỌC THUỘC LÒNG ------------------
(FB Nguyen Huu Hop)
"RẮN, BÒ và VẸT.
Hồi xưa đi học tiểu học, cách đây trên 40 năm, bọn mình hay trêu nhau đọc ê a "rắn là một loài bò (nghỉ một tí)... sát không chân". Yếu tố thực thì ít, nhạo báng việc học thuộc lòng như con vẹt thì nhiều.
Bây giờ, điều đáng buồn là, nhiều thầy cô giáo (nếu không nói là phổ biến) vẫn nghĩ và nói công khai "môn-thuộc-lòng" và yêu cầu học sinh học thuộc lòng (từ tiểu học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông).
1) LỢI cho ai?
- GV: Đối với những giáo viên yếu chuyên môn, cứ đọc cho học sinh chép, cứ bắt các em học thuộc lòng rồi nhắc lại là "ổn", lại "khỏe". Đấy nhá, vừa "đúng" kiến thức như trong sách giáo khoa, vừa "tiết kiệm" thời gian (dành thời gian để "đắp chăn" cho Toán và TV) lại "an toàn".
- CBQL: Một trong những cái phi lí của giáo dục nước ta là quan niệm sai về "giỏi" - đã là học sinh "giỏi" phải giỏi Toán và TV ("người ta" đâu biết rằng, ngoài Toán và TV, còn có đến 6 trí thông minh khác; may là theo Thông tư 30 về đánh giá học sinh tiểu học, nay không xếp loại HS "giỏi" nữa). Do đó, ở tiểu học chẳng hạn, "họ" chỉ quan tâm đến Toán, TV, còn các "môn phụ" cứ "thuộc" là được. BGH cho đề thi thuộc lòng (cho "đề cương" trước, học sinh về nhà học thuộc để thi), kết quả cao ngất ngưởng để có thứ mà khẳng định "gà" nhà mình gáy thật to (không thua gà hàng xóm!). Bệnh!?
2) HẠI cho ai?
- HS: Bị ép học thuộc lòng nhiều biến các em thành những con vẹt và hơn thế nữa: i) những gì các em thuộc hôm nay thì mai sẽ quên một nửa, ngày kia quên gần hết, tuần sau thì không còn nhớ gì; ii) không phát triển được tư duy, trí não (trong lúc đó, tư duy mới là thứ quan trọng, kiến thức chỉ là kết quả của tư duy); iii) chán học, sợ học, học kém rồi bỏ học; iv) sinh ra những tính xấu như cáu gắt, (thậm chí có em) chửi thầy cô chỉ vì (thầy cố) bắt học thuộc nhiều...
- Phụ huynh: Con cái đọc ê a, sau đó, nhờ cha mẹ "dò" xem mình đọc đúng chưa. Thấy con mình đọc đúng, cha mẹ "ngộ nhận" con mình "giỏi"(?), hài lòng về kết quả học tập của con (mà không biết rằng đó là thứ GIẢ TẠO, không hề thực chất).
- Xã hội: Những công dân được giáo dục như thế này chỉ biết ăn theo, nói leo mà không hề có tính sáng tạo; rồi xã hội phải giải quyết hậu quả của những trẻ bỏ học, thất học (mặc dù các cháu rất thông minh, nhưng thiệt thòi là gặp phải những giáo viên dốt - xin lỗi mọi người) rồi làm những điều xấu xa cho xã hội...
3) NGUYÊN NHÂN
- Đối với những lớp có sĩ số HS đông, khó có thể tổ chức được hoạt động cho các em.
- QL chỉ đạo chuyên môn dạy và học theo khuôn mẫu hoặc không kiểm soát được việc dạy của giáo viên; quá coi trọng đến mức lệch lạc 2 môn "chính" là Toán và TV (từ đó, GV phải đối phó với việc này).
- GV yếu kém chuyên môn, thiếu trách nhiệm trong công việc; dành quá nhiều thời gian cho 2 môn "chính" là Toán và TV (có khi lến đến 50 phút hoặc hơn, trong lúc đó, mỗi tiết ở tiểu học trung bình 35 phút), còn những môn "phụ" dạy qua loa, cắt xén thời gian, thậm chí bỏ tiết.
- Phụ huynh cũng "tiếp tay" cho GV - kiểm tra việc học của con thì nhiều người hỏi "Con đã thuộc bài chưa?"...
- SGK được biên soạn theo lối bày sẵn kiến thức, vô tình khuyến khích học sinh học vẹt.
- Chương trình nặng, xa rời thực tiễn, nội dung khô cứng làm cho giáo viên khó dạy một cách thích hợp.
- Phương tiện dạy học chủ yếu là sách giáo khoa và lời nói của giáo viên; các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, đa phương tiện (máy tính, máy chiếu...) chủ yếu dành để phục vụ cán bộ quản lý dự giờ(!).
4) THAY ĐỔI NHƯ THẾ NÀO?
- Giảm sĩ số HS những lớp đông.
- Về nội dung: Nên bổ sung những nội dung thực tiễn, gần gũi, thiết thực với cuộc sống thường nhật của học sinh.
- Về phương pháp: Hãy biến học sinh thành "diễn viên", giáo viên trở thành "đạo diễn".
- Về phương tiện: Tăng cường các phương tiện dạy học khác nhau như tranh ảnh, đa phương tiện...
- Về hình thức: Không chỉ học trong lớp, tăng cường học ngoài lớp, tại hiện trường; phối hợp học toàn lớp, theo nhóm, cá nhân...
- Về kiểm tra, đánh giá: Nên cho học sinh diễn đạt theo cách hiểu của mình, yêu cầu HS dùng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các vấn đề thực tiễn...
@ Theo John Dewey, "giáo dục chính là cuộc sống" mà không phải chuẩn bị cho cuộc sống. Do đó, mục đích giáo dục phải là "...giúp học sinh có CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP". Để học sinh có cuộc sống tốt đẹp, ĐỪNG biến các em thành những con VẸT."

----------- RA ĐỀ THI ---------------
 (Trích - FB chị Laida)
"Dừng lại, các bạn có thấy đây giống như một đề thi dưới mái trường XHCN chúng ta và con chúng ta thường xuyên gặp không? Luôn là một câu hỏi mang tính bao quát kiểu : Hãy nêu nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩa cuộc khởi nghĩa... Hiện tượng cảm ứng điện từ? Nêu ứng dụng của nó trong đời sống.... Làm đứa trẻ phải học thuộc từng ý, từng chữ, từng con số... viết mãi viết mãi vẫn chưa đúng, chưa hết ý của người chấm bài. Cô giáo nhàn - học sinh oải, đó là cách ra đề của giáo dục Việt nam nhiều năm nay."

Câu hỏi kiểu "Nêu nguyên nhân, diễn biến, ý nghĩa, hiện tượng, ứng dụng..." quả là quen thuộc quá :) Ngày xưa mình đi học cũng phải nhớ là trả lời câu hỏi này thì phải đủ bằng này ý, rồi thì triển khai từng ý một ra sao. Ngày ấy chưa biết đến vẽ Mindmap để dễ hình dung, nhưng mà phải nhớ từng gạch đầu dòng là gì, từ môn Văn cho đến Sử Địa, GDCD, thậm chí cả môn Kỹ thuật nông nghiệp. Thế nên, khỏi phải nói vì sao mình cực ghét các môn xã hội.
Giờ thì đã hiểu ra vì sao lại thế. Vì thầy cô không thích ra đề kiểu trắc nghiệm, hay đề gợi mở. Đề kiểu tổng quát như kia thì 5' là biên xong. Học thuộc lòng rồi thì điểm rất chi là cao, vì có khuôn mẫu rồi cứ thế mà thuộc. Chứ mà đề đánh đố kiểu học trò phải tự suy nghĩ, tự đọc nhiều sách khác rồi tự rút ra kết luận thì cầm chắc điểm mặt bằng chung là thấp. Đấy là bệnh thành tích. Rồi còn gì nữa? Học trò làm xong thì quyền cho điểm là ở thầy cô. Ý này thầy cô thấy hay thì cho điểm tốt. Kiểu như "phân tích ý đồ của tác giả", chẳng ai là tác giả để mà nói đúng ý tác giả, nhưng nếu học sinh làm không theo hướng dẫn của thầy cô thì dễ điểm thấp hơn. Vậy nên phải ôn, phải luyện, phải học thêm, những lời thầy cô dạy thì phải chép hết vào vở. Chứ đáp án rõ rành rành như trắc nghiệm multiple choice question thì còn nói làm gì.

---------- PHƯƠNG PHÁP HỌC -------------
(Trích - sách Effortless English)
"Hầu hết các trường học, ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có chương trình giảng dạy bí ẩn tương tự nhau. Một nhân tố trong các chương trình đào tạo này là sự thụ động của học sinh. Trong trường học, học sinh được đào tạo trở nên thụ động, chứ không chủ động. Các em ngồi trên ghế thành hàng. Khi còn nhỏ, các em được yêu cầu phải giữ trật tự và tuân theo giáo viên. Khi giáo viên giảng bài, học sinh ghi chép lại. Sau đó, học sinh được yêu cầu phải ghi nhớ những ghi chép đó để chuẩn bị cho bài kiểm tra. Thông điệp rất rõ ràng - học tập là một hoạt động thụ động. Bạn nghe giáo viên, bạn ghi chép, và bạn ghi nhớ các ghi chú đó.
Nếu chương trình giảng dạy bí ẩn là xấu, tại sao các trường học và giáo viên tiếp tục làm theo nó? Sự thật về hệ thống giáo dục của chúng ta đó là chương trình giảng dạy tồn tại để tạo lợi ích cho các trường học, chứ không phải là học sinh. Giáo viên sử dụng các phương pháp này vì chúng được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên, chứ không phải cho học sinh. Chương trình giảng dạy bí ẩn khiến sinh viên trở nên thu động. Nó tạo ra các học sinh biết vâng lời. Học sinh thụ động và vâng lời thì dễ kiểm soát, giúp cho công việc của giáo viên và lãnh đạo nhà trường dễ dàng hơn. Ví dụ, sách giáo khoa giúp cho công việc của giáo viên dễ dàng hơn nhiều. Bằng cách sử dụng sách giáo khoa, giáo viên không cần thiết phải thiết kế bài giảng cho mỗi lớp. Lập giáo án là công việc khó, và sách giáo khoa làm cho việc này dễ dàng hơn nhiều. Giáo viên có thể chỉ cần dạy theo sách giáo khoa mà không tốn quá nhiều công sức. Nhiều giáo viên thậm chí còn không khác gì những người đọc sách giáo khoa. Mỗi ngày họ đọc sách giáo khoa cho học sinh nghe, dạy theo sách một cách mù quáng".

Đoạn trích trên phân tích chương trình dạy tiếng Anh ở các trường học, nhưng mình thấy nó đúng cho rất nhiều môn. Việc dạy theo sách giáo khoa mà thầy cô không có gợi mở cho học sinh tìm tòi trên các nguồn học liệu khác, là một tác nhân quan trọng làm thui chột khả năng tự học và tư duy phản biện của học sinh. Với tình trạng quản lý giáo dục như hiện nay, thì sách giáo khoa được coi như thánh chỉ, việc dạy, học và ra đề buộc phải xoay quanh nội dung sách giáo khoa, thậm chí nếu thầy cô dạy ngoài lề thì có khi "cháy giáo án". Nhìn sang nước Mỹ, họ có một khung chương trình chuẩn Common Core States Standard, họ có nhiều bộ sách giáo khoa do các NXB tư nhân phát hành với nội dung đáp ứng khung chương trình, tùy theo bang hoặc trường học lựa chọn bộ sách nào thì học sinh học theo bộ sách đó. Không chỉ vậy, trước mỗi giờ lên lớp, giáo viên cũng chuẩn bị nhiều tài liệu tham khảo khác nhau ngoài sách cung cấp cho học sinh để phong phú thêm bài giảng trên lớp, và để học sinh tự học thêm ở nhà. Tài liệu tham khảo có thể là những worksheet được chia sẻ bởi hội giáo viên, có thể là nội dung trên nhiều website giáo dục, có thể là những phần mềm mà nhà trường đã mua gói trường học, giáo viên tạo tài khoản cho các em vào sử dụng. Mình biết đến điều này qua trang Học kiểu Mỹ tại nhà của cô Thu Hồng.
Giáo dục Việt Nam bao giờ cho ra được thế hệ học sinh có thể tự học và có tư duy phản biện còn là câu hỏi chưa có lời đáp. Chừng nào hệ thống giáo dục hướng tới các em, lấy các em làm trung tâm, thì chừng đó các em mới được hưởng lợi ích, đồng nghĩa với việc hệ thống quản lý giáo dục và giáo viên buộc phải thay đổi theo hướng sáng tạo, năng động, lao động nhiều hơn. Nhìn thực trạng điểm chuẩn đầu vào ngành sư phạm thấp so với mặt bằng chung, bao nhiêu tiền ngân sách dồn cho cải cách sách giáo khoa vô hiệu thì thấy vấn đề này sẽ còn rất nan giải.

-----------------------
- RẮN, BÒ và VẸT (FB Nguyen Huu Hop): https://www.facebook.com/nguyenhuu.hop.94/posts/393182327511264
- QUYỀN VÀ GIÚP ĐỠ (FB chị Laida): https://www.facebook.com/LaidaHanoi/posts/308696786155416
- Sách Effortless English: https://tiki.vn/luyen-noi-tieng-anh-nhu-nguoi-ban-ngu-tai-ban-kem-dvd-hoac-dung-app-ve-7-rules-effortless-english-p459173.html
- Trang Học kiểu Mỹ tại nhà: https://www.facebook.com/hockieumytainha/

Friday, August 18, 2017

CHUYỆN CHƠI

Học đã nhiều rồi, vậy còn chơi như thế nào? Trẻ đang tuổi mầm non, cấp 1 càng không thể thiếu thời gian chơi. Ngày xưa, cấp 1 mình chỉ học 1 buổi, 1 buổi ở nhà làm tí bài tập rồi còn lại toàn là chơi. Chơi với trẻ con hàng xóm, chơi tha thẩn 1 mình. Trò chơi thì nhiều: hội bé có chơi chuyền, tú lơ khơ, nhảy dây, nhảy lò cò. Chơi hội đông có trốn tìm, chiếm đồn, thả đỉa ba ba, cá sấu lên bờ. Ở trường giờ ra chơi rất lâu thì rồng rắn lên mây, trồng nụ trồng hoa, đồ cứu. Các trò chơi đa số chỉ cần bạn mà không cần nguyên liệu gì. Có những hôm lang thang đi khắp phố nhặt dây chun, có sợi dây nào bị đứt thì lấy viên gạch đập cho nó nóng lên chảy nước để tự nối lại. Nhặt mảnh sành đẹp đẹp về đập ra để chơi lò cò. Tuổi thơ cấp 1 của mình đầy ắp những trò chơi như thế cho đến khi lên cấp 2 vào trường chuyên là thôi ít chơi hẳn.
Trẻ con bây giờ cũng chơi, nhưng chơi kiểu khác. Mình quan sát chúng nó khi có bạn bè đông, cũng hay chơi các trò đồ cứu, cá sấu lên bờ. Có người điều khiển thì chơi cướp cờ, kéo co, nhảy bao bố, số lượng trò ít hơn mình ngày xưa. Khi có 2, 3 đứa thì chúng tỉ mẩn vẽ vời, xếp lego. Đưa đi chơi xa trải nghiệm thì cũng vẫn loanh quanh những trò ấy. Nhật ký đi chơi của con mình trải nghiệm về nơi đến rất ít, đọng lại trong đầu con chủ yếu là chuyện chơi với bạn như nào. Những hôm học thêm tiếng Anh tối cuối tuần, bao giờ tụi nó cũng xin các phụ huynh cho ở lại chơi thêm với nhau 30 phút, có khi là cả tiếng. Chúng luôn thèm có bạn ở bên chỉ để chạy nhảy, nô đùa.
Loanh quanh Hà Nội có rất nhiều chỗ chơi. Vì trong tuần đi học cả ngày, nên tranh thủ cuối tuần mình thường cho con ra ngoài. Đi gần thì công viên, viện bảo tàng, hiệu sách. Đi xa thì thường theo nhóm bạn sáng đi tối về trong ngày. Dưới đây là tập hợp những điểm đến hay mà nhà mình đã đi:
1.       Công viên
Nhà mình gần 2 công viên Nghĩa Đô và Cầu Giấy. Buổi sáng thường đi công viên Nghĩa Đô có nhiều bóng cây xanh râm mát. Các bạn nhà mình thường chạy nhảy, trèo dây, đu xà, cầu trượt chán chê rồi cả nhà đi bộ một vòng quanh hồ trước khi về. Ở công viên cũng có nhiều nhóm sinh hoạt tập thể, thỉnh thoảng mình cũng quan sát xem có gì hay không. Chủ nhật hàng tuần có một nhóm hướng đạo sinh đang hoạt động, con lớn hơn chút nữa mình cũng thích xin tham gia vào những nhóm như này. Công viên Nghĩa Đô rất mát mẻ, sạch sẽ, chỉ có một điểm mình không thích là trước cửa công viên có quá nhiều hàng rong bán đồ chơi trẻ em của Tàu. Con mình lần nào đi qua đó cũng hứng thú đứng nhìn, ngẩn ngơ, đòi bố mẹ mua cho, nên trước khi đi bao giờ mình cũng phải thống nhất trước với con là mình đi công viên để chơi, chứ không phải mua đồ, chỉ cho con đứng nhìn một lúc rồi kéo con đi chỗ khác là con quên ngay chứ không mè nheo nữa.
Công viên Cầu Giấy xây dựng sau, cây xanh chưa kịp lớn nên hôm nào trời nắng to thì rất nóng. Nhưng công viên có riêng bãi cỏ nhân tạo rộng, thấp cho các bạn bé chơi đùa. Bãi cỏ cao hơn có những trò dành cho các bạn lớn hơn. Đặc biệt là công viên Cầu Giấy có một sân trượt patin rất rộng. Buổi tối ra đây trượt patin thì tuyệt. Phần lớn là trẻ em được cha mẹ đưa đi trượt, có bạn bé tí 4-5 tuổi đã biết trượt, còn lại là thanh niên những người đam mê môn này, họ trượt rất điệu nghệ. Con nhà mình ra đây cũng nhanh chóng kết thân với những bạn cùng tuổi, cùng bám đuôi theo 1 anh lớn kéo thành đoàn tàu trượt vòng quanh sân. Hôm thì đi cùng các bạn lớp học vẽ, tụi nó vừa trượt patin vừa chơi trò đồ cứu.
2.       Viện bảo tàng
Có 2 bảo tàng ở gần nhà mà mình hay đến, là Bảo tàng thiên nhiên và Bảo tàng Dân tộc học. Bảo tàng thiên nhiên nằm trên đường Hoàng Quốc Việt, khuôn viên nhỏ nhưng rất đẹp, hấp dẫn các bạn nhỏ ngay từ lần đến đầu tiên, vào cửa và tham quan miễn phí. Bên ngoài sân bảo tàng là một mô hình khủng long to, bạn nhỏ nào đến đây cũng thích chụp ảnh với khủng long. Bên trong là các hiện vật sắp xếp theo niên đại, quá trình tiến hóa của người, tiêu bản bướm, các tivi chiếu liên tục các phim tài liệu về thiên nhiên qua các thời kỳ, và đặc biệt có 1 phòng chiếu phim 3D. Mình được duy nhất một lần xem ké phim 3D với con giới thiệu về các loài khủng long, hay tuyệt. Gần đây bảo tàng được nhiều người biết đến nên đông quá, muốn xem phim thường phải đăng ký trước.
Bảo tàng Dân tộc học ở đối diện công viên Nghĩa Đô trên đường Nguyễn Văn Huyên, hấp dẫn nhất vào những ngày lễ, vé vào cửa khá rẻ chỉ khoảng vài chục ngàn mỗi người. Bảo tàng thường tổ chức nhiều hoạt động vào những ngày lễ Tết thiếu nhi, quốc khánh, 30-4, trung thu… theo một chủ đề nào đó với nhiều trò chơi dân gian như: kéo co, đi cà kheo, nhảy bao bố, pháo đất, nhảy sạp, đi thăng bằng, lăn bưởi, làm tò he, vẽ tranh… thường là chơi một buổi không hết được các trò.


3.       Vườn thú
Vườn thú Thủ Lệ là nơi trẻ em nào cũng muốn đến nên lâu lâu nhà mình cũng đi. Đi vườn thú vào những ngày lễ thường rất đông, cuối tuần bình thường thì đỡ đông hơn. Ở đây có voi, hổ, khỉ, đà điểu, cá sấu, chim muông … đủ cả
4.       Trải nghiệm khoa học tại Panasonic Risupia
Panasonic Risupia trên phố Trần Thái Tông, gần công viên Cầu Giấy là một địa điểm phục vụ cho việc giới thiệu sản phẩm của Panasonic và trải nghiệm các thí nghiệm khoa học miễn phí. Có một phòng riêng cho thí nghiệm khoa học không cho phép chụp ảnh, gồm nhiều dụng cụ cho phép người tham quan trải nghiệm khoa học rất hay như sự lưu ảnh, sự hội tụ của thấu kính, từ trường của nam châm, bóng đổi màu, biên độ dao động của con lắc, định luật bảo toàn động lượng, trò chơi với số nguyên tố, vòng tuần hoàn của nước, phòng chiếu phim 3D… mà lần đầu mình đến đây thì choáng ngợp luôn. Mình đã ước giá như hồi cấp 2 học vật lý mình được đến một nơi như thế này thì sẽ rất ham học và hiểu bài rất sâu. Các bạn bé như nhà mình đi thì chưa hiểu gì mấy, nhưng con được kích thích trí tò mò, và cũng rất thích nơi này. Phòng thí nghiệm này có thể đến tham quan bất cứ lúc nào Panasonic mở cửa. Ở phía khác là các gian trưng bày sản phẩm của Panasonic, và 2 phòng phục vụ cho các lớp học miễn phí thời lượng khoảng 1h theo chủ đề từng tuần, ví dụ như làm cốc cầu vồng, máy bắn đá, tìm hiểu về lốc xoáy… muốn tham gia thì cần đăng ký trước. Đăng ký tham gia rất đơn giản, chỉ cần đến sớm khoảng 15 phút và đăng ký với lễ tân, nếu còn chỗ họ sẽ cấp cho mình một cái thẻ để tham gia vào lớp học. Vào các ngày 8/3, 20/10 cũng có chương trình cho chị em phụ nữ, mình đã từng tham gia buổi hướng dẫn làm son môi tại đây.

5.       Hiệu sách
Hiệu sách yêu thích nhất của nhà mình là Nhã Nam nằm trên phố Tô Hiệu. Đây là một hiệu sách nhỏ xinh nhưng cách bài trí rất ấm áp, nhẹ nhàng tạo cảm giác là nơi trải nghiệm đọc sách thực sự. Cảm giác này mình rất ít có khi đến những hiệu sách khác, đặc biệt 1 lần mình đến nhà sách Tiến Thọ trên đường Láng không bao giờ quay lại lần 2, vì nhà sách này kết hợp luôn với nơi vui chơi trẻ em, ồn ào, chật chội. Sách Nhã Nam thường là những cuốn được viết/dịch cẩn thận với phong cách trình bày đẹp. Nhà sách Nhã Nam ở Tô Hiệu có sẵn vài băng ghế cho khách đến ngồi đọc sách, góc trong cùng còn có 1 sàn gỗ ngồi bệt với xung quanh toàn sách của trẻ em, Nhã Nam có rất nhiều đầu sách hay cho trẻ em. Các bà mẹ đi cùng con rất thích ngồi đọc sách ở đây. Bọn trẻ thoải mái lựa sách đọc ngay tại chỗ ngồi, đọc xong xếp lại trên giá hoặc ra quầy mua về nhà. Sách do Nhã Nam phát hành mua tại đây được giảm 25% so với giá bìa (rẻ hơn tiki một chút), và giảm 10% cho sách của các nhà phát hành khác.
6.       Play Café
Đây là địa điểm nên đến cho các bạn nhỏ học mẫu giáo và lớp 1, 2. Nằm trên đường Lạc Long Quân, Play Café là một ngôi nhà có nhiều tầng, mỗi tầng là một không gian sinh hoạt khác nhau. Tầng 1 có nhiều đồ chơi cho các bạn nhỏ tầm 1-2 tuổi, có nhiều sách trẻ em và cả sách cho bố mẹ ngồi đọc trong lúc uống Café. Tầng 2 có bếp nấu ăn cho bé gái, có các đồ chơi xếp hình, trang phục biểu diễn, bộ đồ nghề bác sĩ. Tầng 3 là nơi trải nghiệm các hoạt động theo chủ đề, ví dụ thí nghiệm về bột nở, làm đồ handmade, tổ chức sinh nhật. Tầng trên cùng chơi cát, xích đu, cầu trượt. Ở tầng nào cũng có ghế ngồi cho các bố mẹ vừa trông con vừa uống café, nên cũng là địa điểm lý tưởng cho các bố mẹ có con nhỏ vừa tụ tập hàn huyên vừa cho con tự chơi. Phí đi cuối tuần hình như là 80k mỗi bé, có thể mua thẻ bấm lỗ thì 500k đi được 10 lượt. Những lần mình đến vào cuối tuần đều thấy không đông lắm, không gian thoáng đãng và yên tĩnh, tuy trẻ con chơi nhưng không quá ồn ào. Có rất nhiều phụ huynh nước ngoài cho con đến đây chơi, nên nếu nhà nào có con bạo dạn, tiếng Anh kha khá có thể đến giao lưu làm quen với các bạn nhỏ nước khác cũng là điều kiện tương tác hay.

7.       Tini World
Đây cũng là 1 trong những địa điểm ưa thích của 2 bạn nhà mình, phù hợp với mẫu giáo và đầu tiểu học. Ở đây có nhiều trò chơi vận động trên nền xốp đệm bao quanh nên khá an toàn, không gian bài trí dễ chịu, có nhiều phòng chơi khác nhau như chơi cát, xe đua mô hình, xếp hình, đọc sách, tranh cát, xếp hạt… Mình thích chỗ này hơn Hero World ở The Garden vì chỗ đó mang tính giải trí games nhiều quá, không gian ồn ào với nhạc nhảy và nhìn quanh toàn các games với xèng. Tini World mang tính chất chơi giáo dục cho tụi trẻ hơn, có đủ trải nghiệm vận động và trí tuệ. Tuy nhiên giá thì hơi chat, tầm gần 100k mỗi người.
8.       Phố đi bộ hồ Gươm
Đây là nơi vui chơi không thể thiếu cho các bạn nhỏ. Đi bộ ở đây vào buổi tối có nhiều hoạt động hay như nghe nhạc sống, chơi các trò trượt patin, xe thăng bằng, nhiều trò chơi dân gian như ô ăn quan, kéo co, cướp cờ, nhảy dây. Chơi chán rồi ra Tràng Tiền ăn kem. Điều mình không thích duy nhất ở đây là đông quá, bố mẹ đi cùng các bạn nhỏ phải luôn để mắt vì rất dễ lạc.

9.       Trường UNIS
Lẽ ra không nên xếp vào mục vui chơi, nhưng vì các khóa học dành cho cộng đồng ở đây rất hay và học rất vui nên mình vẫn xếp vào. Trường UNIS là trường quốc tế nổi tiếng tại Hà Nội, nằm trong khu Ciputra, có khuôn viên rất rộng và đẹp. Trường thường tổ chức 2 khóa học hàng năm, kỳ mùa thu và mùa xuân với nhiều chủ đề cho cả trẻ em và người lớn. Mình đã đăng ký lớp Science và Art cho bạn lớn nhà mình ở đây, con được làm nhiều thí nghiệm và sản phẩm như tên lửa nước, kính tiềm vọng, chất nhờn slime… trong lớp Science, các đồ thủ công cắt dán trong lớp Art, do giáo viên UNIS giảng dạy. Ngoài giờ học còn được chơi ké sân chơi rất đẹp của các bạn, và cũng là dịp tương tác tiếng Anh với cô giáo và các bạn học tại đây nữa.

10.   Trang trại giáo dục
Giờ quanh Hà Nội có rất nhiều trang trại giáo dục, là kiểu trang trại có trồng cây, nuôi động vật, cho các bạn nhỏ đến trải nghiệm cuộc sống nông trại. Nhà mình mới đi trang trại Era House ở Long Biên, ngoài ra còn có Dê Trắng Farm, Nông trang Bá Tân… nhiều nhà đã đi. Cũng nên đi đôi lần cho biết, tuy trải nghiệm không được nhiều nhưng các bạn nhỏ cũng rất vui, vì được gần gũi với thiên nhiên cây cỏ, được tự tay cho các loài vật nuôi ăn, chơi một số trò vui như bắt cá, cưỡi ngựa.
11.   Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Cách Hà Nội khoảng 50km, đây là nơi bảo tồn và nuôi dưỡng nhiều loài cây và động vật. Đi theo đoàn thì có hướng dẫn viên dẫn đi tham quan nhiệt tình giải thích, hướng dẫn. Tại trạm cũng có một số trò chơi từ vật liệu tự nhiên như bập bênh, đi trên dây, các trò leo trèo, có suối cho các bạn lội nước, bắt cua. Rất hay nếu đi kết hợp với những bài học về cây, rùa, khỉ,… Bạn nhà mình đi về thì ấn tượng nhất với cây xấu hổ và cây long não, giờ đi chơi đâu cũng tìm cây xấu hổ để chạm tay vào. Có thể tự liên hệ, hoặc gom nhóm đi theo đoàn, hoàn toàn miễn phí.

12.   Ecopark
Những ngày nghỉ thì đây là địa điểm lý tưởng để gia đình đi dã ngoại hoặc đi cùng bạn bè. Công viên mở cho người ngoài miễn phí là công viên Mùa Hạ, ở đây có bãi cỏ lớn để chơi nhiều trò chơi, dựng lều, trải bạt, có sân cát cho trẻ con chơi. Nếu đi tập thể có thể thuê nhà sàn, bếp nướng để tự làm đồ nướng BBQ và nghỉ tại nhà sàn. Hoặc trong khu cũng có nhiều quán ăn ở phố Trúc. Vào những dịp lễ, thì thường mở cửa công viên Mùa Xuân với phí vào cửa và chơi nhiều trò chơi do ban tổ chức tự dựng. Lần đầu đến đây mình thích ngay nơi này vì không gian rộng, thoáng đãng, nhiều cây cối, và được nghe nhạc sống nữa. Tuy hơi xa nhưng có xe EcoBus đưa đón từ nội thành Hà Nội với nhiều khung giờ cũng khá tiện.
13.   Công viên Yên Sở
Cũng là địa điểm hay cho dã ngoại gia đình và tập thể. Lần mình đi là cùng nhóm bạn của con, thuê bếp nướng, trải bạt và nướng BBQ tại đây. Ở đây cũng có nhiều nhóm sinh viên đến chơi, nhiều công ty đến tổ chức team building vào các dịp đặc biệt. Ở gần cổng vào có một vài trò chơi đánh đu có sẵn do nhóm ThinkPlayGrounds dựng lên từ gỗ và dây thừng. Đi sâu vào bên trong là những bãi cỏ rộng, có hồ để câu cá. Con nhà mình thích nhất bãi đất có nhiều cào cào châu chấu, lần nào đến đó cũng bắt cào cào châu chấu bỏ lọ mang về. Điều mình không thích ở đây là mùi của hồ, thỉnh thoảng bốc lên nồng nặc mùi thối mỗi khi gió thổi mạnh.

14.   Bãi đá sông Hồng
Nằm sát ven sông Hồng, từ đường Âu Cơ rẽ vào một ngõ nhỏ, cứ thế đi là ra đến bãi. Chỗ này đến để nghỉ ngơi khá tuyệt, đặc biệt là rất đẹp để chụp ảnh. Có nhiều hoa, cảnh nhân tạo như cối xay gió, một vài trò chơi trẻ em, bãi cỏ rộng, những chỗ ngồi nghỉ có mái che. Dịch vụ thì không có gì, mất tiền vé gửi xe và vào cửa vài chục ngàn gì đó. Hôm mình đi có một nhóm nhạc đến tập kèn Saxophone, và có đôi đến chụp ảnh cưới.
15.   Thiên Đường Bảo Sơn
Giá khá đắt nhưng cũng là nơi nên đến ít nhất 1 lần. Đây là quần thể vui chơi nhân tạo với nhiều hạng mục vui chơi như thủy cung, xiếc cá heo, vườn thú, nhiều trò chơi mạo hiểm, xem phim 4D, mô phỏng làng nghề dệt lụa, thêu,… nhìn chung đi cả ngày mới chơi hết. Thường là sẽ mệt trước khi chơi hết các trò nhưng buổi trưa không có chỗ nghỉ ngơi. Có ăn uống chọn món tại khu ẩm thực, tuy không ngon lắm nhưng cũng khá đa dạng món.
16.   Đi chơi cùng với nhóm
Nếu gia đình có xe ô tô thì cuối tuần đi chơi gia đình rất tiện, có thể tự đi một mình, hoặc rủ vài gia đình bạn bè đi theo nhóm. Nếu không có ô tô cũng không phải vấn đề gì, vì bây giờ có rất nhiều nhóm hô hào tổ chức cho trẻ em đi chơi. 2 nhóm lớn mình biết là Hội cho con đi dã ngoại cuối tuần và Cho trẻ ra ngoài chơi đều sinh hoạt trên Facebook. Hoạt động thường là các địa điểm quanh hoặc gần Hà Nội, tầm 100km đổ lại, đi trong 1 ngày hoặc 2 ngày cuối tuần. Ngoài việc trải nghiệm du lịch thiên nhiên, đây cũng là cơ hội cho các bạn nhỏ làm quen, kết bạn. Con nhà mình từ hồi đi nhiều thì bạo dạn hơn, làm quen với bạn mới rất nhanh và lần nào đi về mình cũng yêu cầu con viết nhật ký. Câu chữ còn ngô nghê nhưng con giữ lại được nhiều cảm xúc lắm, đặc biệt là những kỷ niệm về các bạn.


Wednesday, June 14, 2017

Trầm cảm sau sinh

Mấy ngày gần đây báo chí đưa tin về vụ án người mẹ trẻ dìm chết con mới 33 ngày tuổi, bạn bè lại chia sẻ tâm tư những tháng ngày sau sinh. Có một căn bệnh như thế - trầm cảm sau sinh - mà dường như người mẹ nào cũng đã trải qua, mà không mấy khi được cảm thông và thừa nhận. Đọc câu chuyện của mọi người, nhìn chị gái đang vất vả chăm con mới sinh, những ký ức xưa của mình lại cũng ùa về.
Ngày đó, mình không ý thức được tâm trạng của mình bằng cách gọi tên bệnh trầm cảm, mà chỉ tràn đầy cảm giác mệt mỏi, thất vọng, chán nản. Đó là sau khi sinh bé đầu tiên, những ngày đầu xuất viện về nhà. Trước khi sinh còn là niềm vui phơi phới xen lẫn nỗi hồi hộp chờ mong con ra đời. Đến khi mẹ tròn con vuông rồi thì tinh thần mình lại đi xuống. Vết khâu TSM của mình không hiểu sao rất lâu lành, ngồi rất đau cho đến tận khi con 1 tháng. Những ngày đầu tiên ngồi ăn phải quỳ, bế con cho bú phải nghiêng mình vì đau. Con mình sinh sớm 4 tuần và nhẹ cân. Nhìn con như con mèo bé tí, chân nhăn nheo mà vừa thương con vừa lo lắng. Mình được bà ngoại và bà nội thay nhau chăm sóc, như vậy là đã tốt hơn rất nhiều mẹ sau sinh phải chăm con một mình. Ấy thế mà mình vẫn thấy quãng thời gian đó như là địa ngục, chưa bao giờ mình thấy cuộc sống của mình khổ đến mức ấy.
Đầu tiên là vết đau, đau mãi không khỏi, ngày ấy cũng ngố không biết hỏi bác sĩ để dùng thuốc giảm đau. Thứ hai là mất ngủ triền miên vì ngày lẫn đêm con cứ 1h-1.5h đòi ăn một lần. Con bú khó nên mỗi lần bú chỉ ăn rất ít, thành ra cứ ăn lặt vặt suốt ngày. Mình thì kinh nghiệm chăm con chưa có, gì cũng lo. Thời sinh viên mình cũng nhiều lần thức thâu đêm học bài, nhưng cái mệt không thấm vào đâu so với thức chăm con. Cảm giác buồn ngủ rũ ra, nhưng phải thức thay tã, cho con bú. Đến khi con ngủ thì không thể nào ngủ theo, vừa chợp mắt được thì con lại dậy. Mệt đến mức không buồn chải đầu, không buồn tắm gội cả tuần liền cũng không thấy khó chịu vì bẩn, vì cái cảm giác mệt mỏi nó át đi mọi cảm giác khác. Cái sự mất ngủ theo mình đến tận bây giờ, thành ra ngủ luôn dễ tỉnh giấc, không còn như hồi chưa con đặt người lên giường là ngủ ngon đến sáng. Thứ ba là bị ép ăn. Bà nội và bà ngoại đều động viên mình ăn nhiều để có nhiều sữa cho con bú, mình cũng tin và cố làm theo. Món ăn quanh quẩn toàn thịt nạc, rau ngót, trứng, móng giò, mỗi bữa bà ngoại cho mình một bát tô cơm lèn chặt, bà bảo ăn cho chắc dạ. Bà nội thì mình ăn 2 bát bà vẫn chê ít. Móng giò, móng chó là những món từ bé chưa bao giờ mình thích ăn, thì giờ ngày nào cũng ăn. Có bữa ôm bát cơm mà nước mắt rơi lã chã, nghĩ bụng ăn bao lâu thì mới hết cái bát này, mà ăn ít liệu mình có đủ sữa cho con không. Thứ tư là sữa mình có vẻ không đủ cho con, có vẻ thôi chứ sau này đọc sách về sữa mẹ mình mới biết là sữa mình vẫn đủ. Con vẫn tăng cân đều nhưng chỉ 9 lạng - 1kg mỗi tháng, không bằng nhiều bạn khác. Con được đưa ra so sánh với các bạn cùng tuổi, và nhiều người đến thăm bảo sữa mình nóng, con tăng cân chậm. Mặc cảm bản thân và thương con, nhưng lúc đó vẫn kiên trì không nuôi con bằng sữa bột. Thứ năm là có những lời nói của người thân ở thời điểm đó, không biết do mình quá nhạy cảm hay sao, mà mỗi khi nghĩ đến chỉ muốn khóc. Chung quy vẫn chuyện con bé hơn các bạn, sữa mẹ nóng, mẹ thì ăn nhiều nên béo lên thành ra bị nói mẹ ăn hết phần con. Đến bây giờ mình cũng không hiểu sao người ta lại dành những câu nói độc địa thiếu cảm thông như vậy cho người mẹ mới sinh, lúc mà sức khỏe thể chất và cả tinh thần đều đang rất yếu, mỗi câu nói như vết dao cứa khiến cho người mẹ thêm ngã quỵ. Cũng may là mình được bà ngoại bà nội chăm sóc giúp đỡ tận tình, đến khi con lớn hơn là mình tự vượt qua được những tháng ngày đau khổ đó. Thậm chí mình đã so sánh, nuôi con cực khổ gấp trăm lần học hành và công việc, từ nhỏ đến lớn đi học và đi làm chưa có lần nào mình vất vả và khổ sở đến như này. Cũng thật may là mình mệt mỏi chán chường lắm, nhưng chưa đến mức chán ghét con.
Đến bé thứ hai thì kinh nghiệm nuôi con đã nhiều hơn, quen hơn với việc thức đêm hôm, nhất định không ăn kiêng và không cố ăn nhiều như trước, tự tin nuôi con bằng sữa mẹ, vết khâu TSM cũng may mắn đỡ đau hơn lần đầu, ngay ngày hôm sau mình đã ngồi được bình thường. Mọi thứ đều thuận lợi, nên cảm giác trầm cảm không có. Nhưng cơn ác mộng những ngày sau sinh bé đầu mình vẫn không quên được, mà cảm giác đó không chia sẻ cho người thân được, chỉ là chán, mệt, thỉnh thoảng chảy nước mắt thì được động viên. Mình tự cho mình là có tinh thần vượt khó cao, trước đó học hành công việc đều suôn sẻ, vậy mà sau khi sinh cảm giác còn tồi tệ đến như vậy. Mình biết có nhiều người mẹ cảm giác còn tồi tệ hơn, tùy thuộc vào sự giúp đỡ của người thân, những lời nói xung quanh mà người mẹ đó phải nghe, ngưỡng chịu đựng khó khăn của người mẹ ấy.
Sau sinh, người mẹ cần rất nhiều sự giúp đỡ, thông cảm của người thân. Những lời nói ra cũng cần thận trọng bởi giai đoạn đó người mẹ rất nhạy cảm, dễ xúc động, phản ứng tiêu cực với những lời nói thiếu động viên. Mong là mọi người hiểu điều đó để cùng giúp đỡ động viên những người mẹ vượt qua những khó khăn tạm thời này, tránh cho người mẹ những cảm xúc tiêu cực của căn bệnh trầm cảm.

Wednesday, May 3, 2017

TỰ NHIÊN, CƠ THỂ NGƯỜI vs THỰC PHẨM CÔNG NGHIỆP, THUỐC và BÁC SĨ

Gần đây mình quan tâm đến nhóm Vaccine nên hay không? Thật khó để nói ra về mặt tâm lý nhưng mình có cảm giác nên tin vào những câu hỏi và lập luận mà một số thành viên kỳ cựu trong này đang đưa ra. Nhận thức của mình về sức khỏe một lần nữa lại thay đổi, sau lần gần đây nhất là nhận thức về vai trò của sữa mẹ - sữa công thức cách đây vài năm. Mình tin bởi vì mình đã qua một số trải nghiệm, những thứ mình tưởng là đúng trước đó thì hóa ra là vì quá nhiều người nói, đặc biệt là giới chuyên môn như bác sĩ nói nên mình tin là đúng, nhưng sau đó lại phát hiện ra nó có vấn đề khi thực hành, khi mình làm theo cách khác, cái mà mình gọi là thuận theo tự nhiên thì thấy kết quả tốt hơn. Nhờ có những trải nghiệm đó, mình bắt được sóng và hiểu được những lập luận này, thay vì đi tin vào những thứ đã được tuyên truyền ra rả một cách như là ... mặc nhiên đúng.

Trải nghiệm về sữa mẹ - sữa công thức đã thay đổi hoàn toàn nhãn quan của mình, cách mình nhìn nhận về sức khỏe. Khi mình nuôi bé đầu quãng thời gian 2008-2010, thời gian đó sữa công thức lên ngôi, quảng cáo rầm rộ trên tivi, với dưỡng chất DHA giúp bé thông minh vượt trội, bổ sung Probiotics giúp bé tiêu hóa tốt. Trên các diễn đàn các bà mẹ lập các topic bàn về sữa công thức nào tốt nhất. Những buổi học tiền sản miễn phí do phòng khám hoặc bệnh viện tổ chức có sự tài trợ của hãng sữa đứng đằng sau, trong buổi học người ta có một danh sách để các bà mẹ điền thông tin cá nhân như tên tuổi, email, số điện thoại và nhận về những món quà nhỏ xinh xắn, như là một chiếc balô (mình vẫn còn giữ chiếc balô của nhãn sữa Ensure) hay một cuốn sách nhỏ dạy cách chăm sóc bé (với những sản phẩm như của Johnson & Johnson). Và sau đấy vài năm là những cuộc điện thoại bất ngờ từ nhân viên tiếp thị hãng sữa, mời mình đi dự hội thảo miễn phí, dùng thử sản phẩm. Tất nhiên đấy là cách mà người ta marketing sản phẩm mà những bà mẹ ngô nghê như mình chưa kịp nhận ra. Nhưng mà, khi truyền thông ngập tràn các thông tin quảng cáo về sữa công thức, và các bà mẹ cũng chỉ nói về sữa công thức, mình thực sự tin rằng sữa công thức là tốt, hoàn toàn có thể thay thế sữa mẹ mỗi khi bà mẹ có vấn đề với việc tạo sữa (dù câu "Sữa mẹ là tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ" được nhai đi nhai lại như là vô thức mà không được giải thích gì thêm). Đó là lý do khi gặp vấn đề về sữa mẹ (sữa mẹ ra ít, bé tăng cân chậm...), bà mẹ có thể chuyển ngay sang sữa công thức mà không hề có một ý niệm gì cần cố gắng giải quyết vấn đề sữa mẹ, hoặc có cố gắng nhưng chưa đúng cách nên không hiệu quả mà stress nên chuyển sang dùng sữa công thức. Bản thân mình, bé đầu bị sinh non, y tá đến tắm cũng khuyên nên bổ sung thêm sữa công thức kèm với sữa mẹ để bé tăng cân tốt hơn. Đó là toàn cảnh bức tranh mình nuôi bé đầu khi đó, sữa mẹ dặm thêm sữa công thức.

Nuôi bé thứ hai, mình có nhiều thời gian hơn nên tham gia các hội nhóm, và lúc này trùng với thời điểm hội sữa mẹ Betibuti mới ra đời. Đọc được những thông tin trong hội này, mình mới hiểu hơn về sức mạnh kỳ diệu của sữa mẹ mà trước kia mình chỉ biết chung chung mà không được giải thích cặn kẽ, như sữa mẹ là tốt nhất (tốt nhất ở những điểm nào? sữa công thức có DHA vậy có phải dùng sữa công thức thông minh hơn sữa mẹ không? sữa mẹ tốt mà sao con tăng cân chậm hơn sữa công thức, con bú sữa mẹ ngủ không ngon giấc như bú sữa công thức vậy có phải mẹ không đủ sữa hay không? mẹ ăn uống nhiều thực phẩm vậy con có bị ảnh hưởng không? mẹ cho con bú phải ăn kiêng quá nhiều quá là khổ cho mẹ, mẹ cho con bú phải tẩm bổ móng giò móng dê và phải ăn cho con nên me quá béo cũng thật khổ cho mẹ), sữa mẹ có kháng thể nên giúp con phòng chống bệnh tật (phòng chống bệnh tật đến mức nào, sữa công thức con tăng cân nhanh khỏe mạnh như thế, có probiotics tốt cho tiêu hóa của con như thế, con bú sữa mẹ mà cứ đi ngoài xì xoẹt suốt thì là tại sữa mẹ hay tại gì?), nên nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu (vậy sau 6 tháng thì sao, ngoài ăn dặm thì sữa mẹ thay bằng sữa công thức có tốt không?). Đấy là vô vàn câu hỏi thắc mắc về sữa mẹ mà mình không thấy ai trả lời, cũng không có nhu cầu tìm hiểu nữa vì có thể thay thế bằng sữa công thức được mặc nhiên công nhận đấy rồi. Đọc một lèo hết các topic về cơ chế tạo sữa, tác dụng của sữa mẹ, nhu cầu sữa mẹ của con sau khi sinh... mình mới hiểu ra những điều kỳ diệu của tạo hóa, và hiểu ra những mặt hạn chế của nhân tạo (sữa công thức) mà trước đó mình không hề biết. Vậy là quyết tâm nuôi con bằng sữa mẹ cũng thành công. Bé thứ hai khỏe mạnh, ít ốm hơn bé đầu.

Trải nghiệm tiếp theo là cơ chế xử lý bệnh tật của cơ thể. Bé đầu mình cũng theo sách vở, cứ 38.5 độ là cho uống thuốc hạ sốt, bé sốt cao, ho hắng là cho đi khám bác sĩ cho yên tâm. Mình không đủ tự tin với kiến thức nuôi con đầu của mình nên luôn cần đến khám và tư vấn của bác sĩ. Mà bác sĩ thì, đi khám lần nào cũng kê thuốc cho bé. Đơn thuốc cho bé khi bị sốt và sổ mũi (có lúc chưa ho) bao giờ cũng là thuốc hạ sốt, thuốc kháng sinh, chống viêm, chai xịt mũi, men vi sinh. Nếu bé ho thì thêm siro ho. Nếu bé sổ mũi lâu ngày thì có thêm thuốc chống dị ứng (bác sĩ bảo bé hay bị sổ mũi do dị ứng thời tiết). Cứ từng đấy thuốc, chia nhau đi lần lượt vào cơ thể bé. Khổ nỗi từ khi 1.5 tuổi và nhất là sau khi đi nhà trẻ là bé lại cứ bệnh đi bệnh lại, cho đến tận 5 tuổi mới đỡ bệnh, cao điểm có tháng bị sốt và sổ mũi tới 2 lần phải uống thuốc. Mình thực sự rất xót con, mà không biết phải làm thế nào, bác sĩ là người có chuyên môn và đáng tin nhất rồi còn gì. Mình ở nhà cũng cố gắng chăm bé theo kiến thức sách vở mình đọc được, đêm phải canh thấm mồ hôi trộm, ngày mặc quần áo theo thời tiết, cho bé ăn uống đa dạng đủ món và bé cũng ăn được. Thực sự không hiểu mình đã sai ở đâu. Lên diễn đàn các bà mẹ tìm hiểu thì con họ cũng bị tương tự, cứ tầm 1-3 tuổi là ốm liên miên, bệnh tai mũi họng cứ lai rai ốm mãi không khỏi. Cứ thế cho đến khi đọc được một số bài về sốt và cơ chế phòng vệ của cơ thể, cộng với kinh nghiệm cực nhọc chăm bé đầu, bé thứ hai mình tự tin hơn hẳn, dám thử nghiệm với sức khỏe của con. Con sốt mẹ bình tĩnh quan sát biểu hiện chưa vội cho uống hạ sốt. Kháng sinh không dùng. Vệ sinh mũi bằng nước muối 0.9% và chai xịt nước muối biển, kiên trì chờ phản ứng của con. Sữa mẹ duy trì đến khi con 2 tuổi, không bổ sung sữa công thức. Thế rồi con cứ qua từng đợt bệnh, khỏe dần lên và khỏi. Tần suất con mắc bệnh ít đi, thời gian mắc bệnh ngắn hơn. Và mình tin vào những gì sức khỏe của con đã chứng minh, đó là sự kỳ diệu của tạo hóa, của cơ thể người mà theo sách vở Tây y, người ta đã vội vã can thiệp bằng thuốc.

Một trải nghiệm nữa là với những người thân quen của mình, người lớn. Bệnh tai mũi họng lai rai, trên diễn đàn nhiều người bệnh kêu ca cứ bị đi bị lại, uống thuốc không khỏi hoặc uống xong lại bị tái phát. Bệnh dị ứng mẩn ngứa ngoài da, đi khám khắp nơi bác sĩ bảo bệnh này dị ứng thời tiết, không điều trị tận gốc được. Bác sĩ cho thuốc về nhà, cứ uống thuốc vào thì đỡ, dừng thuốc thì bị lại, nặng hơn. Mình tìm hiểu thì thuốc dị ứng đó có chứa chất kháng histamin, chỉ có tác dụng khi uống thuốc. Nguyên nhân bệnh này không rõ, do cơ địa từng người. Rồi bệnh cao huyết áp và tiểu đường, ăn kiêng và uống thuốc trọn đời. Rồi ung thư với hóa trị và xạ trị, % không tái phát được thống kê theo 5 năm, 10 năm ... mà không chắc chắn bao giờ khỏi bệnh. Rất rất nhiều bệnh nữa được xếp vào bệnh mãn tính phải chung sống cả đời, uống thuốc cả đời. Có vấn đề gì đó với Tây y, hình như bệnh chỉ được chữa phần ngọn mà không triệt được nguyên nhân tại gốc. Khám bệnh ở khoa nào thì điều trị theo khoa đó, bệnh phát ra ở chỗ nào thì điều trị vào chỗ đó. Đọc cuốn "Nhân tố enzyme" mới thấy cơ thể con người là một sự tổng hòa, bộ phận này ảnh hưởng đến bộ phận kia. Người có tràng tướng, vị tướng đẹp cũng là người có sức khỏe tốt. Nhiều bệnh phát tác cũng có thể là do nội tạng đang có vấn đề. Có vài người kể chuyện khỏi bệnh ung thư nhờ ăn uống, vẩy tay Dịch cân kinh. Bản thân mẹ mình cũng khỏi hẳn bệnh viêm tai giữa nhờ uống Canh dưỡng sinh, sau nhiều năm điều trị với bác sĩ và bệnh viện mà không khỏi. Mẹ mình cũng đang thử nghiệm bài vẩy tay Dịch cân kinh với bệnh dị ứng, có dấu hiệu giảm nhiều. Bạn của mẹ cũng thấy có tác dụng với bệnh khác. Mình luôn luôn có nhiều thắc mắc, tại sao đi khám bệnh lúc nào bác sĩ cũng kê thuốc, có phải chỉ thuốc mới trị được bệnh hay không? Bác sĩ được đào tạo chỉ để dùng thuốc? Tại sao y học thường thức, cách thức chăm sóc sức khỏe, phòng và chống những bệnh thông thường như cảm cúm, thủy đậu, sởi..., cách dùng các loại thuốc thông dụng không được phổ biến rộng rãi và đưa vào trường học như môn học bắt buộc. Học nhiều toán lý hóa văn sử địa để làm gì, khi cơ thể mình mà không biết cách chăm sóc, phải phụ thuộc hoàn toàn vào bác sĩ? Tại sao những mẹo chữa dân gian khá hiệu nghiệm như đánh cảm không được Tây y nghiên cứu, giải thích và áp dụng, mà chỉ bào chế ra mỗi Paracetamol để người cảm uống? Tại sao nhiều ca ung thư bị bệnh viện trả về, uống thuốc dân gian mà khỏi lại không được nghiên cứu và công bố rõ ràng? Tại sao nhiều bài tập như Dịch cân kinh không được nghiên cứu để phổ biến rộng rãi? Tại sao phương pháp chữa bệnh bằng bấm huyệt tồn tại rất lâu đời không được Tây y nghiên cứu giải thích một cách khoa học? Tại sao bác sĩ cứ mắng người bệnh tin vào lang băm mà họ lại không tin vào y học hiện đại? Có phải y học hiện đại quá xa vời với quần chúng, bác sĩ ở quá cao với những lý thuyết cao siêu không giải thích được cho người bệnh hiểu hay không? Những phương pháp dân gian, dù không được khoa học nghiên cứu, đã thành công trên một số cá thể, nhưng khi nêu lên, bị các bác sĩ lập tức bác bỏ và chế giễu như thể là một hình thức mê tín dị đoan trong chữa bệnh. Hay như khi đọc về bệnh tự kỷ, có nhiều cha mẹ chia sẻ họ cho con đi khám và điều trị từ nhiều bác sĩ, nhưng hiệu quả không như mong muốn. Cuối cùng, các phụ huynh có con bị tự kỷ phải chung tay mua tài liệu, dịch tài liệu sang tiếng Việt, tự lập nhóm điều trị, giúp đỡ, giao lưu. Những kiến thức họ có từ việc chung tay làm cho con đó đang hơn nhiều bác sĩ điều trị tự kỷ. Có nhiều việc cha mẹ đã làm thay bác sĩ. Có nhiều điều làm mình không hoàn toàn đặt niềm tin vào bác sĩ nữa. Bác sĩ cũng bị giới hạn trong kiến thức của mình, và nhiều người khi tiếp xúc với bệnh nhân thể hiện thái độ từ chối học hỏi từ bệnh nhân. Gần đây là cuộc chiến vaccine giữa các bác sĩ với một nhóm các cha mẹ đang đặt câu hỏi Vaccine nên hay không?

Mình ám ảnh nhất với câu hỏi đặt ra trong group "Ví dụ, nếu ta vừa ăn xong món gì mà bị nôn tháo thì bác sĩ sẽ kết luận là do ngộ độc thức ăn. Nhưng nếu con cái ta vừa tiêm vx xong mà bị chết thì bác sĩ sẽ nói như vẹt rằng "chưa biết nguyên nhân!" Đây là cái thứ logic mất dạy và khốn nạn gì vậy?". Thực tế có nhiều cha mẹ bị mất con, hoặc con bị biến chứng sau khi tiêm vacxin, họ đã report vào trong nhóm. Chị đồng nghiệp của mình bị sốc phản vệ khi tiêm vacxin Sởi, quai bị, rubella huyết áp và nhịp tim lên cao phải điều trị ở bệnh viện cả tuần và điều trị bằng thuốc cả năm trời. Quãng thời gian dài sau đó là nhịp tim không ổn định. Người lớn còn như thế, trẻ nhỏ thì ảnh hưởng đến thế nào? Đó là những bằng thức thực, nhưng không được công nhận là tai biến vaccine, vậy thì những con số thống kê % tai biến, % đáp ứng, % giảm tỷ lệ mắc bệnh các bác sĩ đưa ra liệu có còn ý nghĩa?

Tây y còn nhiều vấn đề lắm, và cho đến khi sức mạnh của tự nhiên, sự kỳ diệu của cơ thể con người chưa được nghiên cứu đầy đủ thì khi đó con người vẫn còn sống phụ thuộc vào thực phẩm hóa chất, GMO, thuốc, bệnh viện và bác sĩ.